Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Vu Lan Nghĩ về Đạo hiếu theo qua điểm Phật giáo

Thứ năm, 23 Tháng 8 2012 23:50 Hiếu Thảo
In PDF.

Tiếng kêu ve sầu mùa hạ đã đi qua, những chiếc lá trên cây lại khoát thêm một lớp áo ngả màu vàng heo hắt, mưa ngâu rả rích suốt đêm ngày, làm cho nỗi buồn trong trái tim của những người viễn xứ càng thêm da diết. Mùa thu lại đến rồi. Mùa thu buồn thật, nhưng nó lại là một nguồn cảm hứng vô biên, là nguồn thi liệu bất tận để những cơn sầu miên viễn của các thi nhân đa sầu đa cảm có nơi hòa vào, tuôn trào thành những áng thơ ca bất hủ. Nếu không như vậy thì làm sao Đại thi hào Nguyễn Du có thể thốt lên:

“Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

 

Lọt hơi sương lạnh buốt xương  khô.

 

Não người thay bấy chiều thu,

 

Ngàn lau khảm bạc giếng ngô rụng vàng.”

[Văn tế thập loại chúng sinh]

 

Cũng chính trong tiết trời đầu thu buồn ảm đạm thê lương đó, những người con Phật trên khắp năm châu bốn bể lòng dặn lòng, mùa Vu Lan lại về. Khắp nơi văng vẳng âm thanh của kinh Vu Lan và kinh Báo hiếu vọng lại từ phía các ngôi chùa Phật giáo. 

Những người con có Hiếu Đạo, luôn luôn giữ trọn hiếu hạnh đối với tổ tiên ông bà cha mẹ, thì trong tâm họ, mùa nào cũng là mùa Vu Lan, ngày nào cũng là ngày Vu Lan.

Chúng tôi đọc tụng kinh Vu Lan rất nhiều lần, lắng lòng tập trung suy nghĩ rất nhiều về bản ý của đức Nhất thiết chủng trí khi giảng thuyết kinh này. Thêm vào đó, có một Phật tử, tuổi đã đến độ tri thiên mạng, tâm sự rằng: “Lúc con còn rất nhỏ, nhờ theo bà nội đến chùa tụng kinh Vu lan - Báo hiếu mấy lần, mà đến nay con vẫn còn nhớ rõ mồn một. Ấn tượng đó khắc sâu trong tâm khảm, giúp con vượt qua nhiều cám dỗ bất thiện, để con sống tốt đến hôm nay”.

Lễ hội Vu lan - Báo hiếu không những phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà quan trọng hơn là nó mang trong mình nội hàm đạo đức rất lớn: Đó là đạo Hiếu.

Phẩm chất đạo đức của con người là thước đo quan trọng đánh giá mức phát triển của đời sống tinh thần. Nó cũng chính là thước đo chất lượng cuộc sống của con người. Bởi vì bất kỳ hạng người nào, dù là giàu sang quyền quý hay nghèo khổ bần hàn, nếu không biết tu dưỡng đạo đức thì chắc chắn rằng họ không thể có cuộc sống an vui hạnh phúc thật sự. Điều này, mỗi người tự quay lại suy xét, quán chiếu sâu chính cuộc sống của bản thân mình, thì chúng ta sẽ thấy rất rõ.

Những nguy cơ, khủng hoảng, bất ổn của xã hội hiện đại như: chiến tranh, xung đột, bạo loạn, giết chóc, cướp giật, ma tuý, văn hoá độc hại; kể cả thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, thực phẩm độc hại cũng do chính con người trục tiếp hoặc gián tiếp tạo nên. Nguyên nhân sâu xa của hầu hết các nguy cơ của nhân loại phải đối diện là do con người không biết kiểm soát để ba thứ độc hại tham dục, sân hận và si mê mặc sức hoành hành trong tâm chúng ta mà thể hiện ra. Nói cụ thể hơn, nội tâm của mỗi con người thiếu tu dưỡng, càng bất ổn thì đời sống xã hội bất ổn với biểu hiện của sự suy thoái đến mức trầm trọng của nền đạo đức xã hội.

Chỉ có thể mỗi một con người trên hành tinh này phải có ý thức tu tâm dưỡng tính, nâng cao phẩm chất đạo đức tự thân theo con đường đạo đức của đức Phật, là góp phần không nhỏ trong việc giải quyết những vấn đề bức thiết nhất của xã hội loài người trong thời đại ngày nay. Điều này được học giả người Đức tiếng tăm Albert Schweitzer xác nhận: “Đức Phật Thích Ca đã sáng tạo ra một nền đạo đức tâm linh hoàn thiện nhất. Ngài đã giảng dạy những chân lý đạo đức bất hủ, đã phát triển nền đạo đức không chỉ dành cho đất nước Ấn Độ, mà là của cả nhân loại. Đức Phật là một trong những nhà đạo đức học vĩ đại nhất của nhân loại.” [Tư tưởng Ấn Độ và sự phát triển của nó, tr. 117]

Con đường đạo đức của đức Phật chính là con đường giúp mọi chúng sinh nói chung, con người nói riêng giải quyết được tất cả những nỗi khổ đau bất ổn đạt đến an vui hạnh phúc chân thật và bền vững, mà Hiếu đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của đạo đức.

 

Cả đời đức Thế Tôn đã dùng thân giáo và thuyết giáo để giảng dạy chi tiết về đạo Hiếu cho tất cả chúng sinh ở trong các kinh Địa tạng bổn nguyện, kinh Báo đáp công ơn cha mẹ, kinh Vu lan, kinh Phân biệt, kinh Tương ưng, kinh Thiện Sinh, kinh Tăng nhất A Hàm, kinh Tâm địa quán, kinh Lục độ tập, kinh Bảo tạng, kinh Nhẫn nhục, kinh Tăng chi, kinh Pháp cú, kinh Hạnh phúc…  

Vì sao con người phải xem trọng Hiếu đạo? Đức Phật giải thích cặn kẻ trong kinh Tương Ưng: “Tất cả chúng sinh từ vô thỉ cho đến ngày nay, luân hồi sinh tử trong sáu nẻo, từng làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị, là bà con quyến thuộc.” Đây là nền tảng triết lý thiết lập nên đạo Hiếu của con người.

Phật Thích Ca dạy rõ trong kinh Phân Biệt, người có hiếu mới tu thành Phật được: “Ta trải qua nhiều kiếp tu hành tinh tấn mới thành Phật, đều là nhờ công ơn của cha mẹ, vì vậy người muốn học đạo không thể không hiếu đạo với cha mẹ được.”

Đức Phật còn xếp tội bất hiếu với cha và bất hiếu với mẹ vào hai trong “Ngũ nghịch đại tội”, nếu ai phạm phải sẽ đọa địa ngục, như trong kinh Báo đáp công ơn cha mẹ đã nói:

 

“Trong năm đại tội kể ra,

 

Bất hiếu thứ nhất thật là trọng thay.

 

Sau khi chết bị đày vào ngục,

 

Ngục Vô gián cũng gọi A tỳ.”

Cũng trong kinh này, đức Phật còn phân tích mười cái ơn khó đền đáp được của mẹ đối với con cái: Một là chín tháng cưu mang; Hai là chịu đau đớn khi sinh; Ba là nuôi con cực khổ; Bốn là chịu đắng cay, cho con ngọt bùi; Năm là dành ướt, nhường khô ráo; Sáu là sú nước, nhai cơm; Bảy là giặt đồ dơ; Tám là nhớ thương khi con đi xa; Chín là vì con mà tạo tội nghiệp; Mười là Chịu đói khát để con no ấm.

Trong kinh Thi Ca La Việt, đức Phật còn chỉ rõ bổn phận của người con có hiếu là phải: Một là cung kính và vâng lời cha mẹ; Hai là hết lòng chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ già yếu; Ba là giữ gìn truyền thống gia đình; Bốn là bảo quản tài sản do cha mẹ để lại; Năm là tổ chức tang lễ khi cha mẹ mãn phần. Càng quan trọng hơn là trách nhiệm của con cái phải cung kính khuyên nhũ cha mẹ kính tin Tam Bảo, sống đời hướng thiện, bỏ ác làm lành, bố thí cúng dường theo đúng lời Phật dạy, ngỏ hầu đạt được an vui hạnh phúc miên viễn cả trong hiện tại lẫn tương lai.

Thật sự muốn làm một người con có hiếu đạo đúng nghĩa thì chỉ có cách rèn luyện và tu dưỡng theo lời của bậc phước trí viên mãn đã dạy, mà cụ thể là Quy y Tam Bảo, thọ trì, giữ gìn và tu tập Ngũ giới, siêng năng lễ Phật sám hối, học hỏi kinh điển, tận tâm hộ trì Tam bảo, bố thí làm phước. Đem những công đức đó chí thành chí kính hồi hướng cho cha mẹ, vậy mới là con có hiếu.

Đạo Hiếu Phật dạy không còn hạn hẹp trong phạm vi bổn phận trách nhiệm với ông bà cha mẹ mà còn có ý nghĩa rộng lớn đối với tất cả chúng sinh, như trong kinh Tu Đại Noa, thuộc Lục độ tập kinh diễn giải: “Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh, là đứng đầu của hạnh? (Chẩn cùng tế phạp, từ dục quần sinh, vi hạnh chi nguyên thủ”.

Các nền triết lý đạo đức khác như Nho giáo hoặc Lão Trang chỉ chú trọng đạo Hiếu thiên về phương diện dưỡng dục vật chất và lòng thương kính trong hiện tại. Những điều này đã được nói nhiều trong kinh Hiếu, kinh Đạo đức, kinh Lễ, kinh Nam hoa, Luận ngữ…và đã phát huy tác dụng nhất định trong đời sống đạo đức xã hội.

Phật giáo không chỉ nói về đạo Hiếu khi cha mẹ còn sinh tiền, trong kinh Địa tạng, phẩm Quang Mục cứu mẹ, đức Thế Tôn còn chỉ dạy phương pháp báo ơn cha mẹ khi hai đấng sinh thành đã qua đời. Nhờ tu tạo phước lành, cúng dường Tam Bảo, chí thành hồi hướng công đức cho mẹ, mà Quang Mục đã cứu mẹ thoát khỏi địa ngục khổ đau mãi mãi, sinh về cảnh giới an lành, hưởng vui thù thắng. Pháp Siêu độ cho cha mẹ cũng như cho cả cửu huyền thất tổ chỉ có bậc trí tuệ viên mãn mới có thể biết được. Điều này không có một tôn giáo hay nền triết lý nào ngoài Phật giáo có thể nói một cách tường tận được. Phẩm thứ bảy của kinh này dạy rõ cách cứu độ cho cha mẹ: “Như sau khi cha mẹ đã chết, hàng thân quyến có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sinh lên cõi trời hoặc trong loài người hưởng lấy nhiều sự vui sướng, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích.”

Những vị thánh đế minh quân, những trung thần nghĩa sĩ, có tài kinh bang tế thế, có công đức lớn với dân tộc như, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi… ai mà không thành tài nhờ được nuôi dưỡng và dạy dỗ bằng dòng sữa Hiếu đạo?

Một người con bất hiếu với ông bà cha mẹ, những người sinh ra và nuôi dạy mình khôn lớn thành người, thì không thể nào sống có tình với anh em bà con, cũng không thể sống có nghĩa với bạn bè hàng xóm. Đương nhiên là người đó không thể trở thành người công dân tốt của xã hội, người con trung thành với quốc gia dân tộc. Ngược lại, một người có hiếu với ông bà cha mẹ, biết thương yêu hòa thuận với anh em bà con, có quan hệ tốt với bạn bè hàng xóm. Hiển nhiên người đó sẽ là một công dân tốt của xã hội, là người con ưu tú của quốc gia dân tộc. Những người con hiếu thảo trở thành đống lương ưu tú của dân tộc, là đạo lý thiên kinh địa nghĩa. Từ đó suy ra, nếu đạo Hiếu được xem trọng trong giáo dục gia đình cũng như các môn học đạo đức ở nhà trường và toàn xã hội thì chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ trong việc khắc phục sự suy thoái của đạo đức xã hội hiện nay.


 

Thích Hạnh Tuệ

 

Giảng viên Học viện Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh.

 

Hiệu trưởng Trường Ngoại ngữ Thanh Nhân

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: