Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Hoằng Pháp tại vùng sâu vùng xa, vùng đồng bằng sắc tộc

Thứ tư, 13 Tháng 5 2009 03:50 Hiếu Thảo
In PDF.
 Kính bạch Chư Tôn Giáo Phẩm Chứng Minh TW GHPGVN.
Kính bạch Chư Tôn Đức Ban Hoằng Pháp TW GHPGVN.
Kính bạch quý liệt vị.
         Đức Phật Thích Ca ra đời với mục đích “ khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến ” đem lại lợi ích an lạc cho chúng sanh và loài người. Suốt 49 năm hoằng hóa, đức thế tôn đã du khắp bán đảo Ấn độ, tùy căn cơ và hoàn cảnh của chúng sanh mà nói vô lượng pháp môn tu tập giúp chúng sanh hướng đến giác ngộ giải thoát. 
         Ngài cũng là vị giáo sư truyền giáo đầu tiên tích cực trong lịch sử nhân loại, sau khi diệt độ chư Tổ đức thay nhau tiếp tục hoằng truyền chánh pháp, Phật giáo Việt nam cũng thừa hưởng ân huệ đó và tồn tại cho đến ngày nay.
         Nói đến hoằng pháp, chúng ta liên tưởng đến câu “ hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài ”.Việc hoằng pháp là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả trọng yếu trong việc truyền trì, muốn lợi lạc quần sanh phải tuyên dương chánh pháp, đem chánh pháp tran trãi vào nhân gian để mọi người áp dụng và thực hành chánh pháp từ đó được an vui lợi lạc. Hai chữ “Hoằng Pháp” là tôn chỉ của chư Phật chư Tổ tiếp nối truyền thừa trãi qua nhiều đời và từng thế hệ điều đó đã nói lên cốt tủy của hoằng pháp là có khả năng đem hạt giống Bồ đề gieo trồng khắp mọi nơi, cho đất thêm tươi tốt người sanh tín tâm như suối nguồn tuôn chảy làm mát dịu lòng người, điều đó cũng làm cho sứ giả của hoằng pháp sớm hoàn thành sứ mạng của mình trong việc “ hoằng truyền chánh pháp ” truyền thừa mạng mạch tô điểm cho vườn hoa giáo pháp ngày càng xương minh và phát triển hơn đúng với câu:
Thương đời nhả ngọc phun châu,
Nụ cười chớm nở đượm màu từ bi,
Giọng sư tử thét hùng uy,
Phá tan giấc mộng say mê huyễn trần.
          Sứ giả hoằng pháp với hoài bão “tác như lai sứ, hành như lai sự”, là hàng kế thừa Như Lai với trọng trách đem chánh pháp vào lòng nhân thế, biến đau thương thành an vui hạnh phúc giúp con người trở về với tự tánh của chính mình. Chúng con cảm nhận thông điệp ấy qua sự truyền thừa của chư Phật chư Tổ và chư Tôn đức, các Ngài là những bậc xuất trần thượng sĩ vì chúng sanh đau khổ mà hiện thân trên cõi đời này đưa con người vượt qua sông mê bể khổ trên lộ trình giải thoát.
          Trong xã hội hiện nay, đất nước và con người đang trên đà phát triển, nếu chúng ta dừng hay không tiến bộ theo từng thời đại, chúng ta sẽ cảm thấy hối tiếc với trình độ sẵn có của mình nếu không phấn đấu vươn lên tìm tòi học hỏi ở các vị tiền bối hoặc xem kinh nghe pháp, tìm các thông tin trên mạng v.v… để chuẩn bồi kiến thức cho mình, nâng cao cho việc giảng dạy thêm phong phú và trao dồi kinh nghiệm.
           Nhưng ở đây đôi lúc chúng ta phĩnh phờ trong công việc không hề quan tâm đến các lĩnh vực xung quanh và sự đào tạo giáo dục của chư Tôn đức, có nhiều vị Tăng Ni hoằng pháp trẻ sau khi tốt nghiệp ra trường, không chịu về phục vụ các tỉnh vùng sâu vùng xa thôn quê hẻo lánh vùng đồng bằng sắc tộc, nơi mà thiếu thốn về vật chất nhưng giàu lòng tín ngưỡng và rất tôn sùng Phật pháp. Họ luôn luôn mong đợi khao khát được nghe pháp và học hỏi giáo lý ở các vị giảng sư tài cao đức độ, giáo hóa họ có lòng tin sâu về Phật pháp tràn đầy niềm tin yêu trong cuộc sống.
           Sau khi thành lập Tăng đoàn, đức Phật đã dạy: “ Này các Tỳ kheo, các ông hãy đem ánh sáng đạo tiếp thu được truyền bá cho khắp mọi người đều hưởng mọi sự an lạc ”, chính vì lời dạy ấy, cho nên người xuất gia là “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, trên cầu giáo pháp để tu hành, dưới hoằng truyền giáo pháp để độ chúng sanh. Người hoằng pháp cũng đã từng phát nguyện: “ Đạo pháp cần con đến, Phật sự cần con đi, không ngại khó khăn, không nề khó nhọc”.Chúng con biết rằng Ban hoằng pháp TW cũng đã cố gắng rất nhiều trong việc phục vụ chúng sanh, nhưng cũng chỉ đáp ứng ở các vùng thị đô hội, chưa sâu sát các nơi, vùng sâu vùng xa thì làm sao phật tử có thể phân biệt được giữa mê tín và chánh tín, hiểu đâu là chánh pháp đâu là tà pháp. Cho nên việc hoằng pháp rất quan trọng không thể thiếu trong lòng của những người con phật nói chung. Vấn đề nan giải đối với các ban hoằng pháp tỉnh thành hiện nay vẫn là “nhân sự”, hẳn nhiên là không phải thiếu nhân sự nhưng để trở thành một giảng sư thực thụ, mang tinh hoa giáo lý đạo Phật vào đời sống thực tại bằng tinh thần “vô ngã vị tha” và tâm tâm niệm niệm. Chính vì thế công việc của người Hoằng Pháp là vấn đề cấp thiết quan trọng cho việc truyền bá giáo lý, cũng để đáp ứng nhu cầu học hỏi tu tập của các thiện tín ngày càng thêm gia tăng, đời sống người dân ngày một nâng cao theo khoa học tiến triển, bên cạnh đó việc hỗ trợ tu học mỗi địa phương cũng phải bình đẳng như nhau, không phân biệt thành thị hay thôn quê, nơi nào có Phật có người tu thì sứ giả hoằng pháp phát tâm đến đó để hoằng truyền chánh pháp. Vì chí nguyện của người xuất gia là đoạn trừ phiền não, thoát ly sanh tử hành trì giáo pháp của phật theo tâm nguyện:
“ Hoằng Pháp lợi sanh trường xuất thế,
Tu hạnh định huệ độ chúng sanh ”.
          Là người xuất gia phải đầy đủ Tâm đức, Bi đức và Tuệ đức và phải thực sự cống hiến đời mình cho lý tưởng sự nghiệp phục vụ cho chúng sanh là điều tối thượng ở mỗi cá nhân, vì trách nhiệm và sự nghiệp giáo dục của các vị hoằng pháp, luôn luôn xông xáo tiên phong đến các vùng sâu xa xôi. Nơi có phật tử nghèo thiếu điều kiện học Phật, ít nghe pháp, phương tiện tu tập khó khăn chưa có điều kiện đến chùa, chúng ta phải tìm đủ mọi phương tiện thiết thực như khuyết khích phật tử thường xem kinh nghe băng đĩa video thuyết pháp giúp cho họ có thể tự tu học trong những lúc không có quý Thầy hướng dẫn.
          Vấn đề trên chưa chắc hẳn đặt ra cho ngành hoằng pháp đơn phương giải quyết, vì nó luôn liên hệ đến đường hướng giáo dục của các trường lớp hiện tại, có lẽ vì chưa truyền đạt được lý tưởng “phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật”, cho nên có Tăng Ni khi ra trường còn ngại gian lao. Có khi do cán cân giáo dục hơi nghiêng nên Tăng Ni hoằng pháp có cái nhìn thật xa, bỏ lại sau lưng vùng đất thân yêu quê hương thôn dã, nơi có các phật tử nghèo vật chất nhưng giàu lòng tín ngưỡng rất tông sùng Phật pháp tu hành tinh tấn, thật là đáng thương cho những người con Phật vùng sâu vùng xa.
           Trên xu thế đổi mới nền khoa học vượt bực trình độ dân trí ngày càng cao, đòi hỏi những giảng sư có tài cao trí thức ở thế học và Phật học mới có thể đáp ứng nhu cầu như hiện nay trong việc hoằng pháp, cho nên Tăng Ni vùng sâu vùng xa miền sông nước tỉnh Hậu giang như chúng con, một tỉnh sinh sau đẻ muộn vừa chia tách Cần thơ-Hậu giang nên mọi việc nơi đây xem như mới bắt đầu, muốn cho sinh hoạt được nhịp nhàng đòi hỏi sự hổ trợ của ban hoằng pháp TW quan tâm giúp đỡ chúng con về mọi mặt, thường xuyên trực tiếp liên hệ đến tiểu ban hoằng pháp tỉnh Hậu giang chúng con khi cần chuyển tải tài liệu có liên quan đến việc hoằng pháp, để chúng con có thể tham khảo trao dồi tri thức khi cần thì ứng dụng ngay.
            Đối với tỉnh Hậu giang của chúng con nói riêng công việc Hoằng Pháp còn có nhiều mặt hạn chế, nhân sự thì cũng ít và chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, nên chúng con cần phải có thời gian để cũng cố lại đội ngũ giảng sư của mình sao cho phù hợp với hiện tại. Người hoằng pháp như chúng con lúc nào cũng phải trang bị cho mình rất nhiều kiến thức mới tương xứng cho việc “Đại Phật Tuyên Dương” chánh pháp quãng đại quần chúng, đó là hành trang cầu yếu đầu tiên để vị giảng sư xuôi ngược giữa dòng đời rao giảng pháp âm, nước từ bi là động lực giúp vị giảng sư chế ngự những nghịch cảnh khắc nghiệt của thế gian lắm điều phức tạp, chúng sanh thì đa dạng căn cơ chẳng đồng nhau nên vị giảng sư tùy theo bệnh mà cho uống thuốc.
           Trong việc hoằng pháp có đôi lúc cũng vui, có lúc chúng con cũng gặp trắc trở ở những địa phương đường xá xa xôi thôn quê hẻo lánh, phật tử quần chúng thiếu lễ nghi căn bản trình độ phật học còn hạn chế, rất khó cho giảng sư có thể trình bài thuyết giảng. tuy gặp nhiều chướng duyên khó khăn đủ điều, chúng con không muốn trở lại lần thứ hai, nhưng nghĩ lại xót thương cho đồng bào phật tử vùng sâu đồng bằng cao nguyên không được nghe chánh pháp sống trong mê lầm lắm điều đau khổ, khi nghĩ đến bổn phận của mình mang nặng tứ ân, đại nguyện Bồ đề đã thệ nguyện từ lâu, nên mọi người chúng con tự nhắc nhở mình kham nhẫn để vượt qua tất cả.
           Như ngài Tôn giả Phú Lầu Na, vị Tổ sư hoằng pháp đã từng phát nguyện đến bố giáo nơi nước Du Na, một nước nằm ở vùng biên địa, giao thông khó khăn hiểm trở, dân tình quen theo thói man rợ, bạo ngược. nhưng Ngài không sợ nguy nan hiểm trở, không sợ chửi mắng đánh đập nhẫn đến giết hại nên đức Phật đã ban khen “Phú Lâu Na, ông không hổ danh là đệ tử của Như Lai, hạnh tu hạnh bố giáo và hạnh nhẫn nhục thật là viên mãn. Tuy chúng con không phải là Thánh nhân, nhưng ít nhiều gì cũng có thể giúp phật tử nơi đây thấy được ánh sáng Phật pháp tràn đầy sự tín ngưỡng. Sứ giả hoằng pháp giống như một vị Bồ tát lăn xã vào đời mọi lúc mọi nơi, luôn yêu thương những đứa con thơ dại của mình đang còn trầm luân sanh tử trên vạn nẻo đường đời.
           Như tất cả chúng ta điều xác định sự nghiệp hoằng pháp là sự nghiệp trọng đại đối với hàng xuất gia học Phật “hoằng pháp vi gia vụ”, cho nên người xuất gia không thể không làm tròn bổn phận của một hành giả Như Lai. Do đó muốn cho ngành hoằng pháp được phát triển vững chắc, ban hoằng pháp tỉnh Hậu giang chúng con xin góp vào những ý kiến nhỏ của mình sau đây:
            1. Hằng năm Ban Hoằng Pháp TW tiếp tục mở khóa bồi dưỡng giảng sư ngắn hạn để các tỉnh, thành hội cử nhân sự về tham dự.
            2. Những ngày đại lễ Phật đản và Vu lan, ban hoằng pháp TW phân bổ giảng sư về tỉnh thuyết pháp khi có nhu cầu.
            3. Nếu có điều kiện, Ban hoằng pháp TW nên tổ chức chương trình tập huấn hoặc hội thảo chuyên đề về hoằng pháp mỗi năm ít nhất một kỳ.
            Nhiệm vụ hoằng pháp là nhiệm vụ chúng con thiết nghĩ muôn thuở và suốt đời, bằng những hạnh trạng thân hoằng, khẩu hoằng và ý hoằng. Qua những thỉnh nguyện trên, chúng con mong muốn chư pháp lữ sứ giả đồng hành ở các tỉnh, hãy cùng nhau phát huy mọi điều kiện có thể trong hoàn cảnh khế cơ khế lý, để hoàn thiện chức năng Hoằng Pháp của mình đến với tất cả mọi người. Muốn cho sứ giả hoằng pháp trưởng thành hòa hợp nhất quán và được hội nhập vào dòng sinh mệnh của dân tộc Việt nam và sánh bước nhịp nhàng với xã hội hay không đó là ở các Tăng sĩ trẻ Việt nam, cũng còn tùy thuộc ở những định hướng giáo dục của các vị Tôn đức lãnh đạo giáo hội hiện nay. Nếu như những thiên thần hoằng pháp được trang bị cho đôi cánh tâm đức trí huệ thật khỏe và cân bằng, thì chắc chắn họ sẽ đủ sức chuyên chở Phật pháp bay vào mọi nẻo gần xa trên đất nước, làm tốt đạo đẹp đời trãi bóng mình che mát hiện tại và làm nền tảng để phát triển rộng hơn cho các thế hệ nối tiếp truyền thừa.

BÀI THAM LUẬN TỈNH HẬU GIANG

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 21 Tháng 5 2009 10:50