Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Hoằng Pháp Trong Thời Đại Hội Nhập

Thứ tư, 27 Tháng 5 2009 08:50 Hiếu Thảo
In PDF.

 Đối với một xã hội ngày càng phát triển, thì việc truyền bá giáo pháp của Đức Phật và làm cho mọi người chấp nhận, nghe theo, thực hành theo, đó là việc cần phải nói đến trong giai đoạn hiện nay. Không phải như xã hội ngày xưa, sự nhận thức và kiến thức của con người xưa rất kém, nói sao họ cũng tin.
Ngày nay xã hội văn minh, khoa học phát triển, tri thức được nâng cao thì mọi việc phải phù hợp với khoa học, đúng với sự thật thì mọi người mới chấp nhận tin và làm theo. Tuy vẫn còn một số người tin một cách mù quán, không phân biệt được chánh tà. Tuy nhiên khiến cho hàng tri thức, hàng thượng lưu tin và thực hành chánh pháp, thì đó là trách nhiệm của một Sứ Giả Như lai trong thời đại mới.

Đối với xã hội ngày nay, một xứ giả Như Lai không chỉ có hình thức bên ngoài, mà phải sống đúng và làm đúng với những gì mình nói thì mới có thể khiến cho mọi người tin và làm theo. Có nghĩa là sống đúng với chánh pháp, tự mình có sự an lạc và đem sự an lạc đó cho mọi người, khiến cho mọi người đều có sự an lạc khi gặp được chánh pháp, thì đó là bổn phận và trách nhiệm của Sứ Giả Như Lai mới hoàn thành.
Nói đến Sứ Giả Như Lai tức là nói đến hàng đệ tử xuất gia của Phật, thay Phật truyền bá giáo lý của Ngài đến tất cả chúng sanh. Mang trên vai với hoài bảo đem ánh sáng Trí Huệ và Từ Bi của Phật đến với chúng sanh, và còn có trách nhiệm làm cho đạo pháp được truyền bá rộng rãi cùng với sự tồn tại lâu dài của chánh pháp, để làm lợi ích cho chúng sanh. Giống như sứ giả của một đất nước đi xứ đến nước khác, phải hoàn thành trách nhiệm đã được giao thì mới xem như hoàn thành sứ mạng của mình.
Sứ Giả của Như Lai cũng giống như vậy, đem chánh pháp truyền bá khắp nơi và làm cho chánh pháp được trường tồn, thì mới đúng ý nghĩa là một Sứ Giả Như Lai, nhưng muốn được như vậy thì cần phải trang bị cho mình những thứ cần thiết như sau đây.
1. Hành trang của một Sứ giả Như lai.
Bất cứ một người đi xa nào hay làm việc gì, đều cũng chuẩn bị cho mình đầy đủ mọi thứ cần thiết để dùng trong cuộc hành trình của mình mới không bị trở ngại và gặp điều thất bại trong chuyến đi và thành công trong chuyến đi của mình. Một Sứ Giả Như Lai cũng vậy, cũng phải chuẩn bị cho mình đầy đủ mọi thứ để đối phó với ngoại duyên, nghịch cảnh trong việc đi hoằng pháp lợi sanh. Vậy hành trang của một Sứ Giả Như Lai gồm những gì, đó là kiến thức và đức hạnh.
a. Kiến thức : Tức là sự hiểu biết của mình với mọi việc, thông hiểu mọi sự mọi việc, phải thông hiểu nội điển lẫn thế học.
Nội điển tức là am hiểu tường tận về giáo lý của Đức Phật dạy trong Tam Tạng giáo điển. Dù không thông hiểu hoàn toàn thì cũng phải nắm được những gì cần thiết cho một Sứ Giả Như Lai. Nếu một Sứ Giả Như Lai mà không biết gì về giáo lý thì làm sao truyền trao chánh pháp cho mọi người, trong khi mình mù mịch. Mình tu chưa xong làm sao hướng dẫn người, cũng giống như người mù dẫn đường vậy. Chưa nói đến gặp ngoại đạo đã phá lấy gì để chống trả, để bảo vệ chánh pháp, đối với một sứ giả của Như lai ít phải trãi qua quá trình học tập từ cơ bản Phật học Cao đẳng Phật học hay tốt nghiệp Học viện thì mới có đủ khả năng đi truyền bá chánh pháp trong thời đại ngày nay.
Cho nên sự thông hiểu về nội điện là không thể thiếu cho một Sứ Giả Như Lai.
Thế học : Tức là sự hiểu biết về cuộc đời, có nghĩa là phải học qua kiến thức của thế gian, phải qua các trường lớp, tiếp cận với văn minh khoa học, để không bị xã hội bỏ lại đằng sau.
Người đời, người ta dùng kiến thức của mình, dùng sự học của chính mình để tạo lập sự nghiệp vẻ vang, giúp đỡ mọi người, tạo lập một xã hội văn minh giàu đẹp. Còn một sứ giả Như Lai thì dùng kiến thức đó để khi truyền bá chánh pháp cho phù hợp với xã hội đương thời, như thế thì mọi người mới dễ tiếp thu và thực hành.
Kiến thức là hành trang không thể thiếu của một Sứ Giả Như Lai, giống như một vị đại tướng cầm quân ra trận phải am hiểu binh pháp vậy.
b. Giới hạnh : Là đức tánh của con người được biểu hiện qua thân khẩu ý của một con người, cũng là kết quả của quá trình tu tập. Giới là giới luật của Đức Phật đã chế ra cho hàng đệ tử xuất gia. Hạnh là việc làm hay nói khác hơn đó là oai nghi của một hành giả tu tập. người có giới hạnh tức là người giữ gìn giới luật và thực hành đúng với tinh thần giới luật mà mình đã lãnh thọ.
Thông thường thì tác phong của một vị giáo viên là nói lên tinh thần đạo đức của một vị thầy hay cô đó. Còn ở trong đạo thì giới hạnh là nói lên sự tu hành của một hành giả. Trong đạo Phật giới hạnh được đặt lên hàng đầu vì giới hạnh là nền tảng căn bản. Người có giới đức thì được mọi người kính trọng, tin theo và làm theo, đến đâu là đem lại niềm vui, sự an lạc cho mọi người đến đó. Còn người không có giới hạnh, thì mọi người khinh bỉ, coi thường, thì làm sao đem giáo pháp để truyền dạy. Cho nên giới hạnh là hành trang cần phải có của một Sứ Giả Như Lai, huống nữa là người đại diện cho một bậc Toàn năng Toàn giác, được trời người cung kính, thì giới hạnh càng quan trọng hơn nữa. Như một vị tướng quân ra trận không chỉ am hiểu binh pháp mà phải có võ công cao cường, được ba quân kính phục thì mới đánh thắng giặc được.
Tóm lại, kiến thức và giới hạnh là hành trang không thể thiếu của một hành giả truyền giáo đối với xã hội văn minh ngày nay, cho nên những ai có ý nguyện đi truyền bá chánh pháp, thì hãy trang bị cho mình đầy đủ hai thứ đó là Kiến thức và Giới hạnh.
Khi hành giả đã trang bị cho mình đầy đủ tư lương để thực hiện tâm nguyện hoằng pháp rồi, thì cần phải có tinh thần vô ngã vị tha nữa, tức là sự hy sinh bản thân, chịu đựng sự gian lao cực khổ để truyền bá giáo pháp đến những vùng quê xa xôi hẻo lánh, để cho mọi người có cuộc sống tốt đẹp và an lạc hơn về mặt tinh thần.
Đó là hành giả tự trang bị cho mình những thứ cần thiết trước khi trở thành một sứ giả của Như lai, nhưng muốn cho sự truyền bá Phật pháp được sâu rộng hơn nữa thì cần có sự giúp đỡ của ngoại duyên nữa, đó là sự quan tâm giúp đỡ của chư Tôn đức Ban hoằng pháp Trung ương và Ban Hoằng pháp các Tỉnh thành, thì việc truyền bá chánh pháp mới được sâu rộng. Tại sao lại nói như vậy, đối với xã hội ngay nay sự truyền bá không khó mà khó ở chỗ không được truyền.
Từ thời đức Phật còn tại thế đều dựa theo tinh thần nhân duyên mà độ người, cho đến xã hội ngày nay cũng vậy, có người có duyên với ta, nhưng có người lại không có duyên ta, bằng chứng cụ thể cho chúng ta thấy là nhiều người nhà ở bên vách chùa nhưng không bao giờ vào chùa mà đi sinh hoạt ở chùa khác, cho nên việc truyền bá chánh Pháp cũng giống như vậy, có người có duyên với mình thì minh nói họ nghe, có người có duyên với vị khác.
2. Tình hình Hoằng Pháp hiện nay
Việc truyền bá chánh pháp chủ yếu là càng có nhiều người quay về nương tựa nơi chánh pháp càng tốt, đó là việc chính, không phải mục đích truyền bá phật pháp để nhiều người theo mình, càng nhiều, càng đông là việc chính, còn theo người khác thì không được, nếu ta có tư tưởng như vậy có nghĩa là làm trái lại lời đức Phật dạy, đồng thời ta làm lu mờ và phá hoại chánh pháp mà không hay biết.
Ngày nay có nhiều người và nhiều nơi rơi vào tình trạng như vậy, có nghĩa là vị giảng sư ở nơi khác đến thuyết pháp thì không cho, phải là vị ở địa phương mới được thuyết giảng, như vậy thì ta làm cho sự truyền bá chánh pháp trở ngại, nói khác hơn là tự mình trói buột mình, tự mình làm cho chánh pháp không truyền bá được, như trong kinh pham võng nói “Vòi trong thịt sư tử ăn thịt sư tư, chớ không phải vòi ở ngoài ăn đặng”.
Việc không cho vị giảng sư ở tỉnh khác đến thuyết giảng ở tỉnh mình trở thành phổ biến hiện nay, tại sao ta không mở rộng tầm nhìn và nhìn lại giáo đoàn đức Phật thời xưa, vị nào có duyên ở đâu thì đến đó giảng, đến đó truyền bá, trừ khi vị đó giảng sai, giảng bậy, có những hành động không đúng với tư cách của một vị tu sĩ hay một vị giảng sư thì hãy cấm đón. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho chánh pháp được truyền bá rộng rãi và đúng với tinh thần hòa hợp của Phật giáo của giáo hội ngày nay.
3. Phương hướng hoạt động Hoằng Pháp hiện nay
Trong thời kỳ hiện đại hóa của đất nước, thời kỳ mà tất cả các nước cùng bắt tay nhau để cùng phát triển, cùng hội nhập, từ nhiều tổ chức riêng lẽ trở thành một tổ chức, một đoàn thể, cùng họat động và sinh hoạt chung một quy định như ngày nay, từ đó đưa đất nước phát triển và giàu mạnh. Những tổ chức đó mang đậm tinh thần lục hòa của đạo Phật, thì việc nghành Hoằng pháp ngày nay cần có một sự thống nhất về việc đào tạo, sử dụng người trong công việc Hoằng pháp từ Trung ương đến địa phương như hiện nay là rất quan trọng.
Theo tình hình hiện nay, việc hoằng pháp từ Trung ương đến địa phương chưa có sự gắn kết chặt trẽ với nhau, Ban hoằng pháp Trung ương nên có phương hướng thực tiễn cùng với Ban hoằng pháp các tỉnh thành kết hợp để đào tạo những vị giảng sư có năng lực để phục vụ cho việc giảng dạy các đạo tràng.
Thứ nhất về mặt Trung ương, mở ra những khóa giảng sư, đào tạo chuyên môn về thuyết giảng, trong thời gian 2 năm cho đến 3 năm. Sau khi đào tạo chuyên môn xong, cho các vị giảng sinh về các tỉnh vùng sâu vùng xa, hay các tỉnh thành nào cần giảng sư để thuyết giảng ít nhất cũng phải một hai tháng, sau đó điều đi những tỉnh khác, sau thời gian một hay hai năm, đánh giá qua sự nhận xét ở các tỉnh thành mà vị đó đến thuyết giảng gửi về mới chứng nhận cho vị đó đủ tiêu chuẩn tốt nghiệp hay không.
Thứ hai về mặt các Tỉnh thành, cần phải kết hợp với các vị trụ trì, ở các địa phương, mở ra các đạo tràng tu tập cho các phật tử, đồng thời kết hớp với Ban Hoằng pháp trung ương để yêu cầu cho các vị giảng sư trẻ mới hoàn thành về việc lý thuyết ở nơi trường về thuyết giảng, Ban hoằng Pháp tỉnh được toàn quyền điều hành và phân bổ thời giảng.
Trong thời gian các vị giảng sư lưu trú thì mọi sự sinh họat Ban hoằng Pháp tỉnh thành nơi đó chịu trách nhiệm và lo lắng, cho đến khi hết thời hạng bàn giao lại cho Ban Hoằng pháp Trung ương, như vậy sẽ giúp cho việc đào tạo giảng sư thuận lợi hơn, chất lượng hơn. Đồng thời sẽ giúp cho Ban Hoằng pháp trung ương và Ban Hoằng pháp các tỉnh thành có sự gắn kết chặt trẽ, hòa hợp hơn nữa trong việc hoằng pháp lợi sanh, trong giai đoạn xã hội hiện nay.
 Tóm lại, đối với xã hội ngày nay thì một hành giả Như Lai, thay thế Tôn đi truyền bá giáo pháp thì cần phải đầy đủ hai mặt đó là trí huệ và đạo đức. Trí huệ tức là phải thông cả hai mặt nội điển và ngoại điển. Nội điển phải thông hiểu tam tạng giáo điển. Ngoại điển tức là biết những sự phát triển khoa học như phải biết vi tính, ngoại ngữ v.v...
Đạo đức tức là giữ gìn giới luật mình đã thọ mà tu tập cho được trọn vẹn. Khi đi truyền đạo đem những gì mình biết, truyền trao cho mọi người, cùng với sự uy nghiêm của tự thân do giữ gìn giới luật trang nghiêm mà có, sẽ khiến cho việc truyền đạo đức được thành tựu tốt đẹp, cũng tức là hoàn thành sứ mạng của mình.