Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Đề 3: Ngũ giới

Thứ sáu, 17 Tháng 7 2009 07:57 Hiếu Thảo
In PDF.

A. MỞ ĐỀ:

        Mọi sự việc, sự kiện cho đến vũ trụ, cái gì cũng có quy tắc, pháp luật nhất định. Tu tập cũng có giới luật để nương tựa tu tập.

B. CHÁNH ĐỀ:

I. Định nghĩa: Ngũ giới là năm điều ngăn cấm, có tính chất hướng dẫn tâm hồn và hành động con người ra khỏi sai lầm. Gồm:

1. Không sát sanh.

2. Không trộm cắp.

3. Không tà dâm.

4. Không nói dối.

5. Không uống rượu.

II. Giải thích ngủ giới.

III. Lợi ích của việc giữ ngủ giới.

C. KẾT LUẬN:

Ngũ giới là chánh nhân để hoàn thiện nhân cách của con người, là nấc thang đầu tiên để bước lên địa vị vô thượng chánh đẳng chánh giác.

 PHẦN NỘI DUNG

A.  MỞ  ĐỀ:

Mọi hiện tượng trong đời này, từ thiên hà vũ trụ bao la cho đến con kiến, cơn mưa, làn gió thổi, con người và xã hội, hết thảy đều vận hành theo một quy tắc nhất định. Con người từ khi trí khôn phát triển lớn mạnh, họ thiết lập xã hội để sống an lạc hơn, hạnh phúc hơn, thì từ đó đã có luật pháp căn bản làm nền tảng cho xã hội. Con người có luật pháp mang chất xã hội chung là luật pháp quốc gia gọi là hiến pháp, là bộ luật căn bản…

Trên bộ luật thành văn mang tính bao quát ấy, con người còn có bộ luật thuộc về tín ngưỡng, lòng tin, thuộc về sự tranh đấu trong nội tâm, để hướng tâm hồn về với sự lương thiện, sáng suốt, loại bỏ đi mọi u tối, mầm móng tội lỗi. Con người sống trong cõi đời là sống với mọi người, nên phải có luật pháp để ngăn cấm mọi hành động gieo tai họa cho kẻ khác. Ở một góc độ nào đó thì luật pháp là cơ sở tạo công bằng, hợp lý cho cộng đồng, nhân loại, tạo cho con người, xã hội có cơ hội tiến lên.

Nhu cầu thiết yếu của luật pháp trần gian là thế, thì đối với công việc chuyển hóa tâm hồn, làm mới lại đời sống tâm hồn, hướng đến chân trời an lạc giải thoát, cũng phải có những luật tắc cố định gọi là giới luật, tức là những hạn chế, cấm ngăn không cho mọi người hành động theo chiều hướng của bản năng ác, xấu, sống trong tù hãm bi thương. Giới luật này có tính chất khắt khe như luật giao thông, luật vận hành của vũ trụ. Tài xế lái xe mà vượt luật lệ giao thông thì chắc chắn gây thảm khốc cho bao người và cho chính mình. Người tu tập cũng vậy, sau khi thọ lãnh tam quy, ngũ giới thì đương nhiên phải tuân giữ giới luật làm nền tảng cho đời sống mới. Ngủ giới là bộ luật đơn giản nhất, nhưng cũng là bộ luật sâu sắc nhất, mở đầu cho đường lên thánh hạnh ngay trong đời sống hiện tại và mai sau.

B. CHÁNH ĐỀ:

I.  ĐỊNH NGHĨA:

Ngũ giới là năm điều răn cấm có tính chất hướng dẫn mọi hành động, đời sống của người tin theo đạo Phật sau khi lãnh thọ tam quy, nó là hàng rào cản ngăn không cho ta lọt xuống sông mê Muội, đau xót. Chữ giới có một nghĩa rất rộng là răn cấm đừng làm, tự bó buộc lấy mình, phòng bị như đắp đê ngăn lụt.

Khi ta đi ngang qua chiếc cầu cao nghệu, cầu ấy không có lan can rào cản hai bên, thì dễ làm ta chóng mặt, e không cất bước được vì hồi hộp lo âu. Trái lại nếu có lan can rào cản hai bên vững chắc thì ta qua cầu rất bình yên. Giá trị hiện thực của lan can cũng giống như giá trị và ý nghĩa của giới, đã cứu vớt ta, tạo nguồn an ổn cho tâm hồn ta.

Trong Đạo Phật có hai phương tiện giải thoát lớn nhất là giới luật giải thoát và trí tuệ giải thoát. Tu tập mà không đắp đê giới luật thì nguồn nước trí tuệ bị thấm lọt qua khẽ hở, chảy đi hết. Cho nên trong kinh nói: Từ buổi rạng đông của chánh Pháp được lưu truyền là nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ. Nghĩa là từ chỗ giữ giới luật mà tâm hồn được yên tịnh, lắng sâu. Từ chỗ yên tịnh lắng sâu mà trí sáng phát sinh lên, và cũng từ đó mà soi sáng thêm, cũng cố thêm cho động tác giữ giới. Giới, định, tuệ cứ thế mà liên chuyền tác động yên ổn để ta đạt tới cõi giải thoát thảnh thơi. Năm giới là nền tảng chung nhất, lớn nhất, là mẫu số cho toàn bộ giới luật tại gia cũng như xuất gia. Bao gồm:

1. Không sát sanh. 

2. Không trộm cắp.

3. Không tà dâm.

4. Không nói dối.

5. Không uống rượu

II. GIẢI THÍCH NGŨ GIỚI:

1. Không sát sanh.

Phật khuyên chúng ta không được giết hại sanh mạng từ loài người cho đến loài vật. Phật cấm sát sanh vì những lý do:

    a. Tôn trọng Phật tánh bình đẳng:

Đức Phật đã nói: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có khả năng thành Phật. Chân tánh đã bình đẳng thì chúng ta không nên cho rằng  Phật tánh ở người có giá trị hơn ở vật, ở màu da này, giai cấp này có giá trị hơn màu da kia, giai cấp kia. Cho nên, giết hại một sanh mạng là giết hại một vị Phật tương lai:

“Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ

Không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”

    b. Tôn trọng sự công bình:

Mọi loài đều biết ham sống sợ chết, xem sanh mạng là quý. Nếu ai mưu hại thì sẽ dùng đủ cách để bảo vệ tự thân, thì tại sao lại ỷ khôn mạnh mà giết hại loài ngu yếu để thỏa lòng căm tức, hoặc mưu cầu miếng ngon vật lạ. Việc mình không muốn lại đem ra đối xử với kẻ khác, loài khác, ấy là mất sự công bình. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, cho đến loài vật. Chớ giết, chớ bảo giết.

 c. Nuôi dưỡng lòng từ bi:

Đã là chúng sanh có tình thức thì loài nào cũng biết đau đớn, vui buồn. Một chuyện nhỏ nhặt như khi ta bị lỡ vấp, đã có cảm giác đau đớn, và trong cảnh tử biệt sinh ly ai cũng thương buồn. Một chút đau đớn chính mình còn khó kham chịu, lại gây cho chúng sanh nỗi thống khổ vô hạn, tức không có lòng từ bi, không xứng đáng là con của Phật.

c.       Tránh nhân quả xấu ác:

Khi ta giết một người tức đã gây mối oán hờn với gia đình quyến thuộc của họ. Loài vật cũng vậy, nếu có thể báo oán nó không dung tha kẻ giết. Theo kinh Phật dạy: Kẻ giết hại lâu ngày thì nghiệp sát càng nặng, sau khi chết phải đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu vô lượng khổ đau. Đến khi được thân người lại bị nhiều bệnh hoặc chết non. Cho nên càng sát hại càng tăng thêm nghiệp khổ, mãi xoay vần trong nẻo luân hồi, không biết ngày nào được ra khỏi.

Trái lại, nếu người giử giới không sát hại hoặc phóng sanh thì sẽ được những quả báo như: sắc lực đầy đủ, ít đau bệnh, thân tâm an ổn, mọi người yêu kính, thọ số lâu  dài, thường hưởng phước vui ở cõi trời, người.

2. Không trộm cắp:

Phật khuyên chúng ta không nên trộm cắp từ vật quý như châu báu, vàng bạc, đến vật mọn như cọng rau, trái ớt… Đại khái những vật gì của người không cho mà mình cố lấy, đều thuộc về trộm cắp. Nếu phân biệt rộng ra thì trộm cắp có nhiều hình thức như: Lén lút mà lấy, ỷ mạnh giựt ngang, cho vay nặng lãi, cân non đong thiếu, trốn thuế lậu đò, mưu mô lường gạt để lấy của người. Dù bất cứ hình thức nào, nếu do lòng tham lam lấy của tư hay công trong trường hợp bất chánh, đều thuộc về trộm cắp.

Vì sao Phật cấm trộm cắp? Bởi đối với tài vật sở hữu của ta, ta biết tôn trọng giữ gìn mà trở lại cố chiếm đoạt của người, đó là trái lẽ công bình. Khi ta mất hay vô ý đánh mất một số tiền hoặc vật gì, ta lo buồn ăn ngủ không yên, tại sao lại đang tâm lấy của người để cho họ phải khóc than, đau khổ. Đó chính là thiếu lòng từ bi. Người trộm cắp sẽ bị tù tội, bị khinh chê, cha mẹ gia đình cũng buồn rầu, xấu hổ. Theo kinh Phật, kẻ trộm cắp sẽ bị những ác quả. Nhẹ thì vất vả, nghèo hèn, nặng thì phải làm súc sanh để trả nợ, hoặc đọa vào địa ngục. Cho nên, vì lòng từ bi, vì giữ nhân cách, vì tránh ác báo, đức Thế Tôn  khuyên răn không nên trộm cắp. Nếu giữ giới này mà lại có lòng xót thương giúp đỡ, bố thí, thì sẽ được mọi người kính yêu, lòng từ bi và các phẩm chất lành tăng trưởng, giàu có, được sinh về cõi trời, người hưởng phước an vui.

3. Không tà dâm:

Ngoài vợ chồng chính thức, nếu quan hệ bất chánh gọi là tà dâm. Đức Phật sở dĩ cấm tà dâm vì mỗi người ai cũng muốn gia đình hạnh phúc, đầm ấm. Nếu phá họai làm nhục nhã cho gia đình kẻ khác, đó là trái lẽ công bình, bị mọi người khinh rẻ, chê bai. Kẻ đắm mê sắc dục như là kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tai họa trở lại chính mình. 

Tóm lại, vì trọng lẽ công bình, vì tránh ác báo đời này và đời sau nên đức Phật đã răn dạy không nên tà dâm. Đối với người tại gia Phật cấm tà dâm, nhưng với người xuất gia Phật cấm hẳn dâm dục. Vì ái dục là nguyên nhân sanh tử luân hồi. Trong kinh đã nói: “Ái bất nhiễm bất sanh ta bà, niệm bất nhất bất sanh tịnh độ”. Cho nên nếu giữ giới này thì hiện đời gia đình hòa thuận an vui, mọi người nể trọng, đời sau thân tướng đoan nghiêm toàn vẹn, khỏi sự phiền lụy ưu sầu.

4. Không nói vọng:

  Tướng trạng về điều giới này có bốn cách: Nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói thô ác.

a.  Nói dối:

Chuyện không nói có, có nói không; việc quấy nói phải, phải nói quấy; điều nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, trước mặt thì khen, sau lưng thì chê, những lời trước sau mâu thuẫn, trong ngoài bất nhất… đều thuộc về nói dối cả.

            b.  Nói thêu dệt:

Là việc ít xích ra cho nhiều, làm cho người sân hận, trau chuốt lời nói để chữa lỗi mình, hoặc dùng lời nói ngon ngọt, êm tai để cám dỗ khiến người khac say mê, đắm nhiễm, cũng có khi châm biếm làm cho kẻ khác phải khổ tâm.

            c.  Nói đôi chiều:  

Là đem chuyện bên đây học bên kia, đem chuyện bên kia học bên đây, đến chỗ này nghiêng theo bên này, đi chỗ nọ phụ theo bên nọ, làm cho đôi bên sanh ra giận hờn thù oán nhau. Như tục ngữ có câu:

“Ghê cho kẻ mọc dao trong bụng

Đặt nên điều nói bóng ngoài môi”

            d.  Nói thô ác:

Là mắng chưởi la hét, dùng nhiều lời lẽ nặng nề, không thanh bạch, làm cho người nghe phải khổ đau, buồn rầu sợ hãi. Nên tục ngữ có nói:

“Chim khôn hót tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”

Bốn điều trên đều gọi là nói vọng, tức là chỉ những lời trái với lẽ thực. Bởi đạo Phật là đạo như thật. Ta đã sống trong vòng mê vọng mà còn chồng chất thêm sự nói dối nữa thì làm sao đi đến chỗ giải thoát, khó trở về nguồn chân. Cho nên, muốn học Phật, tất phải tôn trọng sự thật. Bởi động lực của sự dối trá là lòng tham lam, ích kỷ. Lời nói tuy không phải là đao kiếm, nhưng còn nguy hiểm hơn đao kiếm. Nó là con dao hai lưỡi, có thể đâm vào người khác và trở lại đâm chính người sử dụng. Kinh Phật có dạy: Nếu tạo nghiệp vọng thì quả báo bị mọi người mất tin tưởng, việc làm thất bại, đọa vào ba đường ác. Cho nên vì lòng từ bi, vì tôn trọng sự thật, vì bảo tồn sự trung tín đối với mình và trong xã hội, vì tránh quả báo xấu ác, Phật dạy không nên nói vọng. Nếu giữ giới vọng ngữ sẽ được mọi người mến trọng, tin cậy, việc làm thuận lợi, hưởng phước nhân thiên.

            e. Không uống rượu:

Phật khuyên không nên tự mình uống rượu hoặc ép bảo người khác uống. Sở dĩ Phật cấm uống rượu vì rượu là chất kích thích làm mê mờ tâm trí, càng uống càng đi vào chỗ thâm nhiễm các chứng bệnh như đau gan, đau mắt, phong tê, bại liệt, ung độc, không những hại thân mình mà còn lụy đến con cháu. Người say rượu thì cử chỉ, lời nói đều thô tháo, bỏ bê công việc, bị người chê bai. Một chén thuốc độc nếu ta uống vào, chỉ giết một thân hiện tại, chứ rượu thì tâm thần mê muội, trí tuệ lần mất, giết chết pháp thân, bị đọa vào vòng sanh tử, chịu khổ trong vô số kiếp. Uống rượu, tuy không phải là phạm sát, đạo, dâm, vọng, nhưng đó là nguyên nhân sanh ra bốn thứ ấy và vô số tội lỗi khác. Vì tránh đau bệnh, vì giữ phẩm cách, vì bảo tồn hạt giống trí tuệ, vì ngăn ngừa tội lỗi, Phật răn dạy không nên uống rượu. Nếu giữ giới này thì cá nhân an vui, trí tuệ tăng trưởng, gia đình hạnh phúc, xã hội bình an.

Trên đây là lượt qua những điều lợi hại của sự giữ gìn và vi phạm năm giới. Đứng về chiều sâu, tức là về phương diện chủng tử mà nói, thì chư  Tổ có dạy: Nếu sát sanh sẽ mất hết hạt giống từ bi, nếu trộm cắp sẽ mất hết hạt giống phước đức, nếu tà dâm sẽ mất hạt giống thanh tịnh, nếu nói vọng sẽ mất hạt giống chân thật, nếu uống rượu sẽ mất hết hạt giống trí tuệ. Thế nhưng sự trì giới còn có trường hợp khai giá trì phạm. Ví như người tuy đã thọ giới không vọng ngữ, nhưng vì lòng từ bi muốn cứu mạng loài vật noặc muốn tránh sự buồn khổ vô ích cho kẻ khác mà phương tiện nói dối thì không phạm. Cho nên, thọ giới không phải là mãi hạn chế hành giả trong một khuôn khổ. Trong kinh Vị Tằng Hữu có ghi: Vào ngày thọ bát quan trai, bà Mạt lỵ phu nhân vì cứu viên ngự trù mà phải uống rượu, nói dối, bày trò ca nhạc… Sau khi viên ngự trù thoát nạn, phu nhân đem việc ấy thưa hỏi Phật thì Phật bảo bà đã không phạm, mà còn có phước và khen bà có trí phương tiện. Cho nên, người thọ giới nên suy gẫm điều này, đừng quá lo sợ.

III.  LỢI ÍCH:

  Khi còn là chúng sanh, ai cũng có sự mê mờ lầm lỗi. Để cho hàng Phật tử tránh sự mê lầm ấy, Đức Phật tùy theo mỗi trình độ mà chế ra các giới. Năm giới sau đây tuy dường đơn sơ nhưng lại là căn bản của các giới. Đạo Nho có Tam cang ngũ thường, thì đạo Phật có Tam quy ngũ giới. Về năm giới, nếu so sánh đôi bên thì không sát sanh là nhân, không trộm cắp là nghĩa, không tà dâm là lễ, không nói dối là tín, không uống rượu là trí. Kẻ nho sĩ nếu cang thường chẳng vẹn thì không đủ thành người; hàng Phật tử nếu quy giới chẳng tròn, không những đã hư phẩm cách mà kiếp sau còn mất thân người, như trong kinh đã nói: “Ngũ giới bất toàn, nhân thiên lộ tuyệt”. Nếu giữ tròn ngũ giới, hành giả sẽ duy trì được thiện căn, hiện tại an vui, không mất thân trời người và đã có nền tảng để bước lên các nấc thanh cao hơn như Thập giới, Cụ túc giới, Bồ tát giới… cho đến Vô thượng Bồ đề.

C.  KẾT LUẬN:

Năm giới trong Đạo Phật được sử dụng song song với ba đức bi trí dũng của Bồ Tát hạnh để tự mình và kẻ khác đều được an lạc. Nhờ huân tập điều giới mà đoạn trừ được phiền não vọng tưởng, hiển bày chơn tánh, chuyển được tâm phàm phu, bước lần vào bậc thánh.

Kính lạy giới hay sanh định huệ

Lớn căn lành giới thể như như

Bao nhiêu ác nghiệp tiêu trừ

Tam thừa chứng quả vô dư Niết bàn 

                                 PHẦN CÂU HỎI  

1. Kể rõ năm yếu tố căn bản đem hạnh phúc cho con người?

 Đó là: Không sát sanh…

2. Tại sao không được sát sanh?

Vì tôn trọng Phật tánh bình đẳng, tôn trọng sự công bình, nuôi dưỡng từ bi, tránh ác quả.

3. Lòng tham sân ích kỷ là động cơ tạo ra phạm giới nào?

 Phạm giới nói vọng.

4. Nói vọng có mấy cách? Kể  ra.

Có bốn cách, là nói láo dối, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều và Nói lời thô ác:

5. Trường hợp nào có thể nói dối mà không phạm? Ví dụ chứng minh.

Là để cứu mạng người, vật, hoặc để tránh được sự buồn khổ vô ích cho kẻ khác mà phương tiện nói dối. Ví dụ như câu chuyện Mạt Lỵ phu nhân…   


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 11 Tháng 11 2009 11:27

THỜI TIẾT