Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Đề 5: Tụng kinh

Thứ sáu, 17 Tháng 7 2009 08:07 Hiếu Thảo
In PDF.

A. MỞ ĐỀ:

  Hạnh phúc thực sự trong cuộc sống không chỉ đơn thuần đạt được bằng những phương tiện vật chất cũng như những tiến bộ khoa học hiện đại mang lại mà còn phải kết hợp với sự phát triển về tinh thần theo một định hướng cao thượng.
Tụng kinh là một pháp tu tập cao thượng điển hình.
B. CHÁNH ĐỀ:

I.  Định nghĩa Tụng kinh.

II.  Vì sao phải tụng kinh?

III. Nên thường tụng những bộ kinh nào?

IV. Lợi ích của sự tụng kinh:

1. Cho mình

2. Cho gia đình

3. Cho người chung quanh

C. KẾT LUẬN:

  Tụng kinh hiểu nghĩa lý, ứng dụng tu hành sẽ được liễu sanh thoát tử.
PHẦN NỘI DUNG

 A. MỞ ĐỀ:

Phật giáo được khai sinh từ chiếc nôi thành Ca Tỳ La Vệ (thuộc nước Ấn Độ bây giờ) trải qua hơn 2200 năm lịch sử, đầy những thăng trầm, có lúc tưởng chừng như đã biến mất hẳn ngay trên bản địa, Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển rộng rãi khắp năm châu. Hiện nay, sự thành tựu vượt bậc của khoa học cùng với tư tưởng tiến hóa của nhân loại đòi hỏi thẩm định lại giá trị của nhiều tư tưởng triết học xưa nay và đương nhiên nhưng tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu, phản khoa học đều phải tự đào thải trước những văn minh tiến bộ của loài người. Thế mà toà nhà cổ 25 thế kỷ của Phật giáo vẫn tồn tại cùng với năm tháng thời gian, sừng sững như cây đại thọ giữa núi rừng trùng điệp. Điều này chứng minh rằng Phật giáo đã toát ra một sức sống mãnh liệt bắt nguồn từ một giá trị tinh thần phong phú.

Tinh thần ấy chính là sự thể hiện giáo pháp trong mỗi đời sống con người. Bởi hạnh phúc thực sự trong cuộc sống không chỉ đơn thuần đạt được bằng những phương tiện vật chất cũng như những tiến bộ khoa học hiện đại mang lại mà còn phải kết hợp với sự phát triển về tinh thần theo một định hướng cao thượng, trong lành bằng một phương pháp đúng đắn. Tụng kinh đó là một phương pháp tu tập theo Phật giáo cho là một nghệ thuật sống lành mạnh, nó không dành riêng cho ai cả. Mặc dù có quá nhiều công việc trong một kiếp sống quá ngắn ngủi như vậy. Nhưng chính cõi người lại cho ta một cơ hội tốt nhất để thành tựu vô thượng Bồ Đề. Tụng kinh chỉ bằng một công việc đơn giản là chú tâm, có thể làm thềm thang để chứng đắc hạnh phúc Niết bàn, nơi mọi đau khổ đều được tận diệt.

B. CHÁNH ĐỀ:

  I.  ĐỊNH NGHĨA:

Tụng: Là đọc thành tiếng một càch có âm điệu và thành kính.

Kinh: Có 3 nghĩa:

- Thường: Quá khứ Phật nói như vậy (Phật Nhiên Đăng). Hiện tại Phật nói như vậy (Phật Thích Ca). Vị lai Phật nói như vậy (Phật Di Lặc). Vd: Như nói Tứ Đế, thập nhị nhân duyên v.v...

- Tuyến: là sợi chỉ, nhiều sợi chỉ dệt lại thành tấm vải. Cũng thế, nhiều lời dạy của Phật hợp lại thành kinh.

- Khế: Khế lý: hợp với  chân lý; Khế cơ: hợp với căn cơ chúng sanh.

Tóm lại: Kinh là những lời dạy của đức Phật hợp với chân lý và căn cơ của chúng sanh, được chư đệ tử kết tập lại.

Kinh Phật khác với kinh các đạo khác là kinh Phật lúc nào cũng nói lên một chân lý (sự thật) nên không lỗi thời.

Vậy Tụng Kinh là đọc một cách thành kính những lời đức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sanh.

Chúng ta sống trong cõi dục, cho nên lòng dục của chúng ta không bao giờ ngừng nghĩ. Hằng ngày chúng ta thà lỏng 6 căn chạy theo sáu trần, mắt dính sắc, tai kẹt tiếng, mũi theo mùi, lưỡi ưa vị, thân thích xúc, ý theo pháp. Đáp ứng đòi hỏi của sáu căn, chúng ta phải bon chen giành giật để được thụ hưởng. Sáu căn lại là cái thùng lũng đáy, không biết chừng nào chúng ta mới có thể đổ đầy cho cái thùng lũng đáy ấy. Nghĩ làm thỏa mãn 6 căn khác nào nghĩ mò trăng đáy giếng. Đuổi theo sáu trần thu thập được nhiều chừng nào chúng ta lại quên mất mình nhiều chừng ấy. Và cho đến trong giấc ngủ cũng còn chiêm bao cải lẫy, cười khóc, vui buồn như lúc thức. Trong cảnh mê mờ đầy dục vọng ấy, may thay đức Phật đã vì thương xót chúng sanh mà cất tiếng kêu gọi:

    “Hỡi khách bến mê dừng bước lại

       Nương thuyền bát nhã vượt qua sông”.

 Vâng! thuyền bát nhã ấy chính là những lời dạy vàng ngọc của đức Phật  được kết tập thành kinh. Có thể phá tan mây u ám của vô minh và tội lỗi. Nhưng những lời lẽ cao siêu ấy, chúng ta nghe qua một, hai lần cũng không thể hiểu thấu và nhớ hết được. Cho nên chúng ta cần phải đọc đi đọc lại mãi mãi, để cho lý nghĩa thâm huyền được tỏa ra và ghi khắc trong thâm tâm chúng ta, không bao giờ quên được.

      “Tự qui y Pháp, đương  nguyện chúng sanh

        Thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải”.

Nếu nói rõ, tụng kinh mục đích là để cho tâm và khẩu được hợp nhất vào câu kinh tiếng Pháp của Phật.

Theo quan niệm thông thường nói rằng Tụng kinh là để cầu an và cầu siêu. Nói như thế cũng đúng phần nào. Bởi rằng:

Ý nghĩa Cầu An: Là để sám hối tội lỗi dứt hết nghiệp chướng, hầu  tránh khỏi  bệnh họan, tai họa và nghiệp báo để được thân tâm an lạc, phước huệ trang nghiêm, đạo tâm kiên cố, bồ đề tăng trưởng.

Nếu nói rõ, Cầu An là cầu nguyện trong những trường hợp tai họa, ốm đau do nguyên nhân tội lỗi gây ra. Lúc bấy giờ ta vận hết lòng thành, tắm gội thân tâm, tập trung tất cả tâm lực cầu nguyện bằng cách tụng kinh, lễ sám v.v… Đối trước Tam bảo, chính nhờ sức mạnh của tinh thần cầu nguyện này mà giao cảm đến chư Phật, Bồ tát sẽ phóng quang đến gia hộ cho chúng ta sớm đạt được như ý và hợp chánh đạo.

Vì rằng, Phật thương chúng sanh như mẹ thương con, chúng sanh nhớ Phật như con nhớ Mẹ. Vậy nên mỗi lúc cầu nguyện chúng ta cần phải thảnh khẩn và đầy đủ đức tin mới có sự cảm ứng gia hộ của chư Phật và Bồ Tát: “Cảm ứng đạo giao nan tư nghì”.

            Ý nghĩa Cầu Siêu: Là sám hối tội lỗi cho người quá vãng, hầu chuyển nghiệp nhân xấu ác của người, khiến họ xa lìa quả báo đau khổ, rời khỏi cảnh giới tối tăm đọa đầy, cầu cho thần thức được nhẹ nhàng thảnh thơi, siêu sanh về nơi thế giới tịnh lạc, chóng thoát luân hồi. Như Ngài Mục Kiền Liên nhờ chư tăng cầu siêu cho Mẹ mà thoát cảnh địa ngục.

Nếu nói rõ, cầu siêu là cầu nguyện cho người sau khi lâm chung, thời gian 49 ngày, cứ mỗi thất làm tuần, hoặc ngày giáp năm hay húy kỵ v.v…

Trong thời gian này, gia quyến cần đặt vấn đề cầu nguyện và hiếu sự trên hết, nên phải tránh bất cứ sự sát hại sinh linh nào và bao nhiêu việc làm khác có tính cách gây tội lỗi. Cần nhất là người cầu nguyện phải trai giới thanh tịnh, vận hết lòng thành tập trung vào việc tụng kinh, sám hối để cầu nguyện và phải làm thêm những việc từ thiện như phóng sanh, bố thí, cúng dường, ấn tống kinh điển v.v…

Trong kinh Phật dạy: Tụng niệm và làm các việc phước đức, đem công đức ấy hồi hướng cho vong linh, cũng như gởi lương cho người  đi xa vậy. Người đã siêu rồi như được Phật thọ ký, người ở các cõi trên mau lên các địa vị cao hơn, hào quang càng sáng tỏ. Người đang sa đọa trong ba đường ác thì cũng nhờ các công đức ấy mà siêu sanh tịnh độ hay thoát khổ lên làm trời người v.v…

Cố nhiên những hình thức ấy không làm nên Phật giáo, nhưng Phật giáo không thể không cần đến hình thức. Bởi hình thức nó giúp để phát huy Phật giáo lúc mọi người toàn sống trong hình thức, dựa vào hình thức để đưa mình vào khuôn pháp phải theo. Hình thức là biểu hiện của tinh thần mà mọi cách sống và bất cứ nơi nào, chỗ nào, với ai cũng thế. Cho nên lễ cầu siêu cho những người quá cố là để tỏ mối tình cảm sâu xa mà mình đã có qua những kỷ niệm gắn bó thắm thiết qua bao ngày tháng với người đã khuất.  

Lễ cầu an cũng vậy, trong khi thân nhân có người đau bệnh quằn quại, tai nạn đớn đau… trước cảnh tượng ấy nếu là người dưng nước lã vô tình vô tâm thì chẳng thấy bận lòng. Nhưng đối với những người thân yêu ruột thịt, thì cố hết cách làm cho những người lâm bệnh hay lâm nạn của mình được an tâm, đã làm hết cách mà không khỏi được cũng không cảm thấy ân hận rằng mình chẳng hết lòng.

Nhưng những hình thức cúng lễ vừa nói trên, không có nghĩa vu vơ là hướng vào bao nhiêu nghi lể phức tạp, tà ma linh đình, rối rắm, phi Phật giáo. Nếu nghi thức cúng lễ làm đúng theo khuôn khổ Phật giáo thì phải thực hiện thật giản dị, gọn gàng, nhẹ nhàng, trang nghiêm, nhất là phải thành tâm định niệm mới có lợi ích.

Hơn nữa, cuộc sống của chúng ta không thể tự một mình mà làm được mọi việc, mà phải luôn cần có sự giúp đỡ, nhưng sự trợ giúp ấy chúng ta không được phó thác mà cần phải cố gắng mới được. Cho nên tụng kinh để cầu an, cầu siêu cũng rất cần thiết, nhưng sức nguyện nhất tâm, thành kính thì kết quả mới thành tựu viên mãn.

III. Nên thường tụng những bộ kinh nào:

Phàm là kinh Phật thì bộ nào tụng cũng được cả, vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí sáng suốt cho chúng sanh, nếu chúng ta chí thành đọc tụng.

Nhưng vì căn cơ của chúng sanh không đều, nên ta phải lựa những bộ kinh nào thích hợp với căn cơ và sở nguyện của chúng ta mà tụng đọc.

Thông thường, các Phật tử Việt Nam từ xuất gia cho đến tại gia đều trì tụng những kinh như: Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn, Dược Sư, Địa Tạng, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp hoa...

Nhiều người lại có quan niệm chọn bộ kinh cho thích hợp với mỗi hoàn cảnh, mổi trường hợp để tụng như:

- Cầu siêu thì tụng kinh DI Đà, Địa Tạng, Vu lan...

- Cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư...

- Cầu tiêu tai và giải bệnh thì tụng kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm...

- Cầu Sám Hối thì tụng Hồng Danh, Lương Hoàng Sám, Thủy Sám...

Các quan niệm chọn lựa như thế cũng có phần hay là làm cho tâm chuyên nhất, sẽ được hiệu nghiệm hơn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng về mặt giáo lý cũng như về mặt công đức, bất luận một bộ kinh nào, nếu chí tâm trì tụng thì kết quả cũng đều được mỹ mản như nhau cả.

Nhìn chung, chúng ta đọc kinh, thấy pháp Phật dạy trong đó, nhưng kỳ thiệt Ngài không để gì trong kinh hết, mà Ngài chỉ rỏ tâm của ta cho ta thấy đó thôi. Nếu không thấy cái tâm mình, không cải bỏ những tâm lý nhỏ mọn hung ác một tí nào, thì dù có học kinh suốt cả đời thì trầm luân vẫn là trầm luân, tham lam vẫn cứ tham lam... Lúc bấy giờ dù có học muôn ngàn quyển kinh thì cũng không làm sao vớt ta lên khỏi bể trầm luân được. Ta không biết chính bể trầm luân ở trong lòng ta, ấy là tham lam, nhỏ mọn, tật đố, kiêu căng, hẹp hòi, độc ác... mà cứ cho trầm luân ở đâu xa, nhât định ta không thoát khỏi trầm luân được. Bởi đức Phật ra đời cốt dạy cho chúng sanh thoát khỏi trầm luân, giải thoát ngay trong hiện tiền, ngay trong tâm niệm, ngay trong giờ phút này vậy.

Thử hỏi ngay trong giờ phút này chúng ta có tham sân si... không? - không, như vậy ngay trong giờ phút này chúng ta thoát khỏi trầm luân. Cho nên nếu mỗi giây phút tụng kinh, chúng ta không tham sân si đó là chúng ta thoát khỏi trầm luân. Nếu cứ tiếp tục kéo dài mãi, nhất định chúng ta sẽ thoát khỏi trầm luân. Nên hàng Phật tử chúng ta tụng kinh là để cho rõ lời Phật dạy, nhờ đó mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút luôn luôn tâm niệm, ta cố tìm cách gạt qua tất cả những tính xấu để chúng ta thoát khỏi trầm luân.

Vì vậy, nếu muốn  thoát thì phải siêu, có siêu mới thoát. Siêu  là gì? siêu là vượt lên những cái nhỏ mọn, lặt vặt hằng ngày thì ta mới giải thoát được. Còn nếu cứ cố chấp, níu kéo các việc nhỏ mọn hằng ngày, tất nhiên phải sa lầy  vào những chuyện đó mà không thể giải thoát được, bởi vì không siêu. Nghe ai nói động một tiếng đã nổi giận, nghe ai chê bai một tiếng đã bực tức, ai đụng đến một chút đã khó chịu. Thậm chí có những Phật tử đi chùa đã lâu, tụng kinh thật nhiều, nhưng khi đến chùa, rũi ro người khác vô ý làm dơ bẩn vạt áo một tí thì đã quay lại nạt nộ và gây liền: “Không có mắt hay sao mà lại làm như thế”. Như vậy, chính tự mình không giải thoát.

Vì vậy, lời Phật dạy là những điều hết sức minh bạch, thực tế như giữa ban ngày, nhưng chẳng qua chúng ta không học nỗi, không tìm học, hay không chịu học mà thôi. Ai chịu học những lời dạy của đức Phật, người đó được an lạc, người đó sẽ được giải thoát, giải thoát từng giờ, từng ngày và giải thoát cả đời.

Như thế, tụng kinh nào cũng có lợi ích, nhưng điều quan trọng nhất là ta phải thể nhập được những nghĩa lý trong kinh mà ứng dụng thực hành mới có kết quả. Như trong pháp hội của đức lục tổ Huệ Năng, có một thầy tên là Pháp Đạt, một hôm đến tham bái, đãnh lễ tổ ba lạy mà đầu không sát đất, Tổ quở: “Lạy là để phá trừ kiêu mạn, tỏ lòng cung kính, lạy mà đầu không chấm đất chắc trong lòng còn ôm giử một điều gì?”. Pháp Đạt nói: “Tụng kinh Pháp Hoa đã được ba ngàn bộ”. Tổ dạy: “Dầu có tụng ba ngàn bộ đi nửa mà không hành thì cũng vô ích. Nếu hành được tinh thần Pháp Hoa thì sẽ cùng tôi sánh vai mà đi”.

Như thế, tụnh kinh mà không phá trừ kiêu mạn, thực hành hạnh khiêm cung thì mất rất nhiều công đức.

IV. Lợi ích của việc tụng kinh:

Những lời giáo hóa trong ba tạng kinh điển của Phật đều là những lời hiền lành, sáng suốt do lòng từ bi và trí tụê siêu phàm của Phật nói ra. Kinh Phật vì thế có phần siêu việt hơn tất cả những lời lẻ của thế gian. Nếu chúng ta chí tâm trì tụng, chắc chắn sẽ được nhiều lợi ích cho mình, cho gia đình, và những người chung quanh.

1. Cho mình:

Lúc tụng niệm, ta đem hết tâm trí, chí thành đặt vào văn kinh để khỏi sơ suất, nên sáu căn đều thâu nhiếp lại một chỗ. Chăm lo tụng kinh, nên ba nghiệp thân, khẩu, ý không còn móng khởi lên mười điều ác nữa mà chỉ ghi nhớ những lời hay, lẽ phải.

2. Cho gia đình:

Trước khi sắp sửa tụng kinh, những người trong nhà đều dứt các câu chuyện ngoài đời và khách hàng xóm đến ngồi lê đôi mách cũng tự giải tán. Trong gia đình nhờ thế được thanh tịnh, trang nghiêm, hòa thuận.

3. Cho người chung quanh:

Trong những lúc đêm thanh vắng, lời tụng kinh trầm bổng theo với tiếng mỏ nhịp đều, tiếng chuông ngân nga, có thể đánh thức người đời ra khỏi giấc mơ, đưa lọt vào tai kẻ lạc lối những ý nghĩa thâm huyền, những lời khuyên dạy bổ ích, chứa đọng trong kinh điển mà ta đang tụng.

Như vậy rõ ràng tụng kinh chẳng những có lợi ích cho mình, cho gia đình mà còn cho những người chung quanh nữa. Đó là mới nói những điều lợi ích thông thường có thể thấy được, ngoài ra tụng kinh còn có những điều lợi ích, linh nghiệm lạ thường, không thể giải thích được, ai tụng sẽ tự chứng nghiệm mà thôi.

C. KẾT LUẬN:

Chúng ta thấy sự an lạc tùy thuộc vào tư duy cảm xúc của con người. Nếu tâm tư của một người bị chi phối bị chế ngự bởi sự lo lắng, buồn rầu, sợ hãi thì họ không thể có an lạc. An lạc và hạnh phúc đi đôi với nhau; hạnh phúc có hay không tùy thuộc vào thái độ tâm lý ổn định hay không. Một người mạnh khỏe và giàu có, nhưng trong lòng sôi sục dục vọng hay hận thù thì người ấy không thể có sự an lạc và hạnh phúc; một người đầy danh vọng và sự thành đạt mà trong lòng sự lo lắng bất an, sợ hãi chế ngự thì không thể có hạnh phúc được.

Đức Phật dạy rằng, một người đạt được sự thanh tịnh, an lạc là người khi có điều không vui đến, những điều lo âu, sợ hãi đến thì không bị chúng làm chi phối, vướng bận; không bị chi phối, vướng bận với cái tư duy tham dục, sân hận và ác ý... 

Cho nên kinh Pháp cú dạy: “Không có hạnh phúc nào lớn bằng sự yên tĩnh của tâm trí”. Đây là mục tiêu quan trọng mà việc tụng kinh cần đề cập đến và qua sự tìm hiểu trên ta thấy đúng như vậy.

Tóm lại: Tụng kinh là để giữ ba nghiệp cho được thanh tịnh trang nghiêm và huân tập những điều hay tốt. Đồng thời ôn lại những lời Phật dạy để làm phương châm đời sống hằng ngày và huân tập giống Bồ Đề giải thoát vào tâm thức cho mình cùng người.

Tụng kinh để làm cho pháp âm lưu chuyển trong nhân gian, cảm hóa mọi người cải tà quy chánh và khuyến khích nhắc nhở mình cùng người trên đường làm lành học đạo. Cho nên, người tu theo Phật phải luôn luôn tụng kinh để sám hối tội lỗi, cầu mong sớm đạt mục đích giải thoát và giác ngộ. Lại nữa, tụng niệm để cầu an cho người bệnh họan và cầu siêu cho kẻ lâm chung chóng thoát khỏi luân hồi, siêu sanh tịnh độ.

Chúng ta là những người luôn phản kháng lại hoàn cảnh đen tối hiện tại, luôn luôn vận dụng năng lực để cải tạo hoàn cảnh xấu xa thành cõi đời vui đẹp an hòa giải thoát. Ta không nên nhìn giải thoát ngoài khổ đau, vì chúng vốn bất nhị. Vì thế, ta cố gắng tụng kinh, niệm Phật tức là cố gắng lật mặt mặt nọ sang mặt kia. Đó chính là cải tạo cảnh giới khổ đau thành an lạc hạnh phúc, chúng ta hãy thiết lập cảnh giới Tịnh độ nhân gian ngát hương ngay tại chốn này.
PHẦN CÂU HỎI

1. Thế nào là tụng kinh?

Là đọc một cách thành kính những lời đức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sanh.

2. Kinh có mấy nghĩa?

Kinh có 3 nghĩa: Thường, tuyến và khế.

3. Có người hỏi:Người đã quá cố thì biết họ ở đâu mà cầu siêu? Liệu cầu như vậy họ có siêu không?

Theo lẽ tương quan trùng trùng, cũng khó mà thấy rõ một cách xác quyết sự tương quan giữa hữu hình với hữu hình, hữu hình với vô hình, vô hình với vô hình, nên cũng khó xác quyết người chết rồi còn những gì hay mất cả. Còn cầu siêu mà họ có siêu hay không thì điều này còn tùy ở sự có tin hay không tin quyết định. Nhưng dù có siêu hay không thì điều chắc chắn là nó cũng làm vơi nhẹ nỗi niềm thương xót sầu khổ đối với người mà đã cùng với mình đồng chung máu huyết sống bên nhau qua bao ngày tháng buồn vui đùm bọc, bây giờ chỉ phút chốc họ bỏ ra đi biền biệt. Họ đi đâu, không biết! Mất còn, chẳng hay! Chính vì cái không biết, chẳng hay này mới làm cho người thân còn lại cảm thấy chới với, nghẹn ngào, cùng đường ăn nói.

Trong khi đó nếu làm gì được cho người khác khỏi khổ và làm cho mình vơi hết sầu thì họ quyết làm; đối với những người có lòng tin Phật thì họ sẽ tụng kinh, niệm Phật, cầu siêu để cầu Phật lực gia hộ. Nếu là bạn bè đồng đạo mà cầu cho nhau thì lại là một cử chỉ tỏ tình thân thiết chia buồn, trợ giúp bạn trong lúc bối rối tâm tư. Cũng giống như thắp một nén nhang trước bàn thờ tổ tiên, đặt một bó hoa trước mộ người quá cố. Biết họ có chứng hưởng hay không? Nhưng không làm thì không được, không làm thì tỏ ra nguời còn lại là kẻ vong ân, vô tình; mà vong ân, vô tình là một điều không ai muốn có.

4. Có người hỏi: theo luật nhân quả thì ai gây nhân chi thì chịu quả nấy, nay cầu cho họ siêu thì trái luật nhân quả không?

Luật nhân quả nằm trong luật nhân duyên. Đã là nhân duyên thì dù nhân dù quả đều luôn luôn thay đổi. Nếu một người đã tạo nhân xấu nhưng nay gặp duyên tốt của Phật lực, Pháp lực, Tăng lực, thời các nhân xấu của họ cũng thay đổi, và khi nhân xấu đã thay đổi thì sự thọ quả cũng sẽ thay đổi hoặc được siêu thoát, hoặc bớt chịu khổ hơn. Như cái cây đã héo gặp khí mát thổi tới mà được tươi trở lại. Trong Phật giáo, sự tạo nghiệp và chuyển nghiệp luôn luôn đi liền với nhau.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 11 Tháng 11 2009 11:45