Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Đề 6: Pháp Thân

Thứ sáu, 17 Tháng 7 2009 08:23 Hiếu Thảo
In PDF.

A. MỞ ĐỀ:

                  Đức Phật dùng vô số phương tiện để hoá độ chúng sanh đều được an lạc, giải thoát, đó là do Ngài thành tựu Pháp thân.

B.  CHÁNH ĐỀ:

I. Nguồn gốc tam thân.

II. Định nghĩa Pháp thân.

III. Ý nghĩa Pháp thân.

C. KẾT  LUẬN:

            Nếu chúng sanh biết hướng về tu tập, trau dồi phước đức, trí tuệ thì sẽ thành tựu pháp thân.

 PHẦN NỘI DUNG

A.     MỞ ĐỀ:

Sự xuất hiện của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong trần thế là cả một vinh hiển lớn cho con người và xã hội. Ngài là kết tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng; là hiện thân của chân lý giải thoát, là điềm lành cho tất cả chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới. Nếu cuộc đời không đau khổ tối tăm, đức Phật đã không xuất hiện ở đời. Ngài ra đời vì một mục đích trọng đại là chỉ bày cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến của chính mình hay nói khác hơn “Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì an lạc, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài ngưới” mà đức Phật xuất hiện ở thế gian. Vì mục đích cao thượng đó mà Ngài đã để lại sau lưng bao thú vui tuyệt đỉnh của trần gian, để đi tìm chân lý cứu độ quần sanh. Ta mơ danh vọng Ngài có ngai vàng, Ta mơ phú quý Ngài có cung son điện ngọc; Ngài có tất cả những gì ta mơ, thế mà Ngài vẫn cố ý đoạn tuyệt.

Khi vào đạo, Ngài là thầy của trời người, thế mà Ngài vẫn không chịu ở yên, lại vất vã duổi rong trên mọi nẻo đường. Suốt 49 năm Ngài dùng bát Từ bi để tát vơi bao bể lệ cho chúng sanh. Chúng ta thấy mọi tầng lớp xã hội đến với Ngài, tất cả đều được đức Phật hướng dẫn tiến theo con đường sáng suốt, phạm hạnh và trở thành những người đạo đức kiểu mẩu trong xã hội. Việc làm của đức Phật thật là cao cả, to lớn, thật là nhiệm mầu thù thắng. Đó là do đức Phật dùng báo thân viên mãn đầy đủ phước đức trí tuệ để làm hạt nhân tạo thành Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật. Tỳ Lô Giá Na Pháp thân hay ánh sáng trí tuệ rọi vào các pháp, điều động các pháp thành phương tiện giáo hóa của Như Lai, chuyển hóa xã hội đương thời. Vậy, để hiểu  rỏ Pháp thân, ta cần tìm hiểu sơ qua Tam thân Phật.

B.     CHÁNH  ĐỀ:

I. Nguồn gốc của tam thân:

Kinh Pháp Hoa Huyền Nghĩa nói: Đức Như Lai không chỉ xuất gia tu hành thành đạo một đời này thôi, mà đã vô lựơng vô số kiếp.

Căn cứ trên bốn bộ kinh: Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật, Tâm Địa Quán, Tăng Nhất A Hàm, chúng ta tìm về nghĩa tam thân của đức Phật.

Kinh Hoa Nghiêm nói đức Phật có 10 thân.

1. Thân Bồ Đề: Là thân sau khi thành tựu đạo quả dưới cội Bồ Đề.

2. Thân nguyện: Vì nguyện lực độ sanh nên hiện thân.

3. Thân Biến Hóa: Còn gọi phân thân, là tùy theo cơ cảm chúng sanh mà hóa hiện.

4. Thân Trụ Trì: Những xá lợi Phật sau khi hỏa tán, để trên tháp tôn thờ. Những chúng sanh đời sau cung kính đãnh lễ cúng dường coi như Phật hiện tại, tạo nhơn duyên thù thắng có giá trị coi như Phật ở thế gian.

Các bậc sớ giải về sau mới liệt bốn thân đầu thuộc loại ứng hóa thân.

5. Thân Phước Đức: Muốn được thân phước đức phải tu tập bốn pháp hạnh viên mãn, thành tựu thân đại trượng phu. Bốn pháp hạnh đó là: Tứ nhiếp pháp, tứ bình đẳng Tâm, ngủ minh, lục độ. Do thành tựu bốn pháp hạnh này nên đức Phật được gọi là thân phước đức.

6. Thân đại lực: Trên cơ sở bốn pháp hạnh ấy tập trung vào bốn vô sở uý, thiền định và thập lực.

7. Thân tướng hảo: Đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp.

8. Thân thanh tịnh: Đức Phật, Ngài đã thành tựu đạo quả dưới cội bồ đề, dù vào trong thai mẹ, nhưng vẫn được thanh tịnh.

Kinh Đại Bản Nguyện nói:

“Bồ Tát trong thai mẹ

Thanh tịnh như lưu ly

Thường giử gìn chánh niệm

Như mẹ Ngài an lành”.

Sự hiện thân của Bồ Tát Hộ Minh vào thai mẹ, được tự tại an vui và giải thoát, từ nhập thai đến Niết bàn cũng đều thanh tịnh. Chỗ khác nói thân kim cang thanh tịnh.

9. Thân trí: Tập trung vào bốn trí. Đức Phật chuyển tám thức thành bốn trí, thành tựu quả  vô thượng chánh đẳng chánh giác.

10. Thân pháp giới: Lấy pháp giới làm thân, thể tánh của các pháp hiện hữu khắp mọi nơi, trên cơ sở này lấy pháp giới làm bản thể để có thêm Báo thân, Pháp thân.

Như vậy, ba thân được thành lập là dựa trên cơ sở 10 thân trong kinh Hoa Nghiêm.

II. Định Nghĩa Tam thân:

Thân: có sáu nghĩa:

1. Tích tụ: Kết tụ bởi năm uẩn, còn gọi quả báo dị thục.

2. Thể chất: Tinh túy của tứ đại thể và tính chất.

Thể: Bản thể các pháp.

Tính chất: Tứ đại: Đất, nước, gió, lửa.

3. Sắc tướng: Hình ảnh của tứ đại, qua đó biểu hiện được hình mạo, dáng trắng, đen, đẹp, xấu...

4. Chướng ngại: Về hai mặt: 
               - Hình dáng: Trên thân có những sự khổ sanh già.

5. Quả báo: Thân báo chướng. Bởi vì chúng ta không tạo ra thân quả báo đời trước, do đó không có thân đời nay.

6. Dị thục: Khác với nhân đã tạo, như nhân thiện ác mà quả vô ký. Thân Phật hình thành trên hai loại thân: Báo thân và ứng hóa thân.

Qua sáu nghĩa thân trên:

- Hàng nhị thừa thấy ứng thân ở mức độ bình thường.

- Bồ Tát thấy báo thân một cách trọn vẹn.

- Pháp thân chỉ có Phật với Phật mới thấy. Bồ tát chỉ thấy từng phần, phá từng phần vô minh, thấy từng phần pháp thân.

Kinh Thập trụ đức Phật dạy: Do vô minh phiền não bị che mờ nên hàng phàm phu không thấy được Pháp thân và Phật tánh.

“Gió cuốn mây đen về biển cả

 Một vầng trăng sáng giừa trời không”

Hàng phàm phu nhị thừa  không thấy được pháp thân do bị vô minh ngăn che.

Đạo Phật cũng có ba ý nghỉa là thể, tướng và dụng. Nên nói là ba thân, nhưng cuối cùng chỉ có một. Đây là nguyên lý mà đức Phật nào cũng đủ ba thân (Phật Phật đạo đồng).

Như đức Phật Thích Ca và Đi Đà thể hiện ba tên (ba thân) khác nhau nhưng chỉ là một.

Đức Phật Thích Ca:

Þ    tỳ lô giá na

Þ    lô xá na

Þ    thích ca

Đức Phật Di Đà:

Þ    vô lượng thọ: Pháp thân hiện hữu qua hai mặt

+ thời gian: Lúc nào cũng có.

      + không gian: Hiện hữu tất cả chỗ.

                                                => vô lượng quang: Bát nhã đức.

Þ    Vô lượng công đức: Giải thoát đức.

III.  Giải thích ý nghĩa Tam thân:

1. Báo thân Phật (Lô Xá Na):

- Báo thân Phật: Báo là quả báo.

- Lô xá na: Trung Hoa dịch là tịnh mãn. Đây là tướng viên mãn thanh tịnh tuyệt đối. Tu tập bốn pháp hạnh của bồ tát, thành tựu phước trí, đưa đến quả vô thượng bồ đề mới được báo thân

Báo thân Phật kết tinh bằng phước đức và trí tuệ. Phước đức không phải vô hình, nhưng thực là những vịệc làm tốt đẹp, lợi ích. Ngài đã chan hòa cho đời những hành động đạo đức này, luôn được trí tuệ hướng dẩn chỉ đạo nên không bao giờ phạm phải sai lầm mù quáng.

Thành tựu về phước, đơn cử có bốn tướng như:

- Bạch hào: Lông mày trắng trong sáng khắp mười phương thế giới, vì trong những kiếp về trước đức Phật không nhíu mày, nhăn mặt đối với chúng sanh.

- Nhục kế: Đãnh cao. Đức Phật tu nhơn tôn trọng pháp, lấy đầu đãnh lể, trải thân cúng dường, đầu đội kinh điển.

- Cặp mắt sáng như ngưu ma vương: Tu tập tâm từ, nhìn chúng sanh đoan chánh, thể hiện qua đôi mắt không liếc ngó, háy nguýt.

Lưởi dài: Như kinh nói: “Trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới”.

Trong những kiếp quá khứ, vận dụng lưởi nói vô lượng pháp môn để giáo hóa chúng sanh không có nói dối.

2. Ứng thân Phật:

Thích Ca Văn, Trung Hoa dịch là độ ốc tiêu, nghĩa là độ vô lượng phiền não như lửa thiêu đốt... Đây là đứng trên mặt dụng mà nói. Ứng thân tức là thân ứng hiện tùy theo sở cầu của chúng sanh (hữu cảm tất hữu ứng) để hóa độ. Vì có nhu cầu của chúng sanh trong thế giới, nên Phật mới xuất hiện. Ngài cũng là một con người đã trải qua ba a tăng kỳ kiếp tu tập, đến thân cuối cùng tu tập, có nghĩa là tối hậu thân. Tối hậu thân của Phật Thích Ca là Bồ tát Hộ Minh, từ cung trời Đâu xuất giáng sanh xuống cõi Ta bà làm con vua tịnh Phạn, làm một người như muôn ngàn người khác, có sanh ra lớn lên, bệnh rồi chết. Như thế mới gần gủi với chúng sanh, mới nghe rỏ được tâm tư, nguyện vọng để rồi đáp ứng cho chúng sanh.

Hình ảnh ông trưởng giả cởi áo gấm tốt, mặc áo phân dơ để đến với chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa là ý này vậy. Ngoài ra Ngài cho chúng ta thấy mọi người đều có thể thành Phật, nếu hành theo chánh pháp. Vì Ngài từ con ngưởi tu hành thành đạt quả vị Phật chớ không phải từ cỏi thần thánh cao siêu nào hết.

Ứng hóa thân Phật thì nhiều vô kể, nhưng tiêu biểu là 32 ứng thân được trình bày trong phẩm phổ môn của kinh Pháp Hoa.

Ứng hóa thân Phật phải đầy đủ 8 tướng gọi là “bát tướng thành đạo”:

1. Giáng sanh 

2  Nhập thai      

3.  Thụ thai

4.  Xuất thai

5. Xuất gia 

6.  Thành đạo              

7. Chuyển pháp luân

8. Niết bàn

Đức Phật nào cũng vậy, đây là chu kỳ của mổi đức Phật khi ứng hiện ở cỏi ta bà nầy và chỉ áp dụng ứng hóa thân Phật mà thôi.

3.  Pháp thân Phật:

Đây là phần chính của đề tài mà ta cần đề cập đến. Pháp thân Phật Tỳ Lô Giá Na, Trung Hoa dịch là biến nhất thiết xứ, đây là thể pháp thân, là giáo pháp của Phật. Phẩm tựa kinh Tăng Nhất nói:

       “Thế Tôn  ra đời thọ quá ngắn

         Nhục thân tuy mất pháp thân này còn

         Do đó giáo phàp không mai một

         Đây là pháp bảo nên tu tập”

Bà Phật tử người Đức Mariarilke cũng đã phát biểu: “Trong pháp thân Phật đã bắt đầu cái gì đó, sáng rỡ hơn muôn ngàn mặt trời. Đó là biểu hiện cho trí tuệ vô biên tuyệt vời, nó tiềm tàng trong pháp bảo vô biên ấy”.

Pháp thân thành tựu 18 pháp bất cộng, xa lìa sắc ấm, không còn chấp ngã. đức Phật không còn chấp sắc là có thật nên cấu tạo thân cũng không thật có. Do đó phiền não cũng không thật.

Sắc có  5 nghĩa:

- Vật thể: Về sắc chất như cái bàn, ghế…

- Chướng ngại: Ngăn cản; như bức tường, hàng rào làm trở ngại cho chúng ta.

- Biến họai: Có sắc phải vô thường thay đổi theo thời gian.

- Tích tụ: Do nhiều nhân góp lại.

- Bản thể: Ngũ uẩn thân tứ đại, thí dụ bản thể con người không mang tính tự tâm tự tánh, đây là cơ sở có ra pháp hữu và đây là điểm nổi bật quan trọng trong vấn đề quan niệm về pháp thân, có sự khác nhau giữa hai tư tưởng Tiểu thừa và đại thừa.

Quan niệm về pháp thân của Tiểu thừa Phật giáo:

Theo tư tưởng của Kinh Tăng Nhất A Hàm thì chữ Pháp được hiểu là Chánh Pháp, cho nên Chánh Pháp còn ở đời là Pháp Thân Phật hiện tiền. Ngoài ra chữ Pháp ở đây còn được hiểu là Ngũ phần Chân Hương do Ngũ phần Hương này mà thành tựu Ngũ phần pháp thân.

- Giới Pháp thân: Ba nghiệp thân, khẩu, ý của Như Lai xa lìa tất cả lỗi lầm. Do đó gọi là giới pháp thân: Siêu Việt Sắc Am. Đối với phàm phu chúng ta, giới pháp thân là thân thanh tịnh không nhiễm ô.

- Định Pháp thân: Chơn tâm Như Lai tịch tĩnh, xa lìa tất cả vọng niệm điên đão nên gọi là định pháp thân: Siêu Việt Thọ Am. Đối với chúng ta có lúc yên tĩnh có lúc không yên tĩnh.

- Huệ Pháp thân: Trí tuệ chân thật của Như Lai sáng tỏ, tròn đầy, quán chiếu thông đạt pháp tánh nên gọi là tuệ pháp thân: Siêu Việt Tưởng Ấm. Đứng về mặt lý đã đạt trí vô thượng Bồ Đề nên lấy trí huệ làm Pháp thân.

- Giải thoát Pháp thân: Thân, tâm của Như Lai giải thoát tất cả phiền não hệ phược nên gọi Giải thoát Pháp thân: Siêu Việt Hành Ấm.

Đoạn trừ được hết vô minh phiền não, thành tựu được hai mặt:

- Tịch: giải thoát khỏi phiền não.

- Chiếu: trí tuệ phát sanh.

- Giải thoát tri kiến pháp thân: Như Lai đã giải thoát sanh tử, không thấy có Niết bàn để chứng, tâm cảnh như như nên gọi giải thoát tri kiến pháp thân: Siêu Việt Thức Ấm.

Tâm giải thoát: Như nước đục được lóng trong, nước trong là nhờ thoát khỏi bẩn.

Trí giải thoát: Như cái đèn, bóng đèn bị đóng đen, vì thế ánh sáng không thể chiếu soi được. Nếu ta lấy nước rửa sạch thì lúc ấy ánh sáng được chiếu soi rõ ràng. Trí của Phật không còn phân biệt chấp trước.

Kinh Lăng Già nói:

“Tùng thị Bồ Đề thọ

Nãi chí Bạt Đề hà

Ví như lòng trung gian

Vị tằng thuyết nhất sự”

Nghĩa là: Từ Bồ Đề đạo tràng nhẫn đến Sông Bạt Đề trong khoảng giữa đó đức Phật không nói một lời vì đức Phật đã chứng được giải thoát tri kiến.

Như kinh Kim Cang nói:

“Bồ Tát suốt ngày độ chúng sanh

Nhưng không thấy chúng sanh được độ”

Hoặc cổ đức có bài thơ:

“Ngũ phần hương tỏa khắp mười phương

Quyện kết thành mây nguyện cúng dường

Pháp thân thanh tịnh mười phương Phật

Mỗi niệm tương ưng lý chơn thường”.

Như vậy theo quan niệm tiểu thừa quan niệm ngoài sanh thân Phật đã không còn nữa, người ta hình dung ra đức Phật vẫn hiện hữu trong giáo pháp pháp thân, tăng đoàn pháp thân, tức Ngài còn hằng hữu qua lời dạy trong kinh điển, qua sinh hoạt hòa hợp thanh tịnh của chư tăng ở khắp năm châu.

Quan niệm về pháp thân của đại thừa Phật giáo:

Đại thừa Phật giáo quan niệm về pháp thân rất cao và rất rộng. Chữ pháp ở đây được hiểu là pháp giới, tức thân này biến khắp pháp giới, không sanh, không diệt, vô thỉ, vô chung. Lấy pháp giới tánh làm thân nên gọi là pháp thân.

Pháp thân chính là cõi thường tịch quang. Đây là thể nhất chơn pháp giới bao hàm tánh tướng rộng rãi vô biên; vì Phật lấy pháp tánh pháp tướng làm thân, nên gọi là pháp thân. Pháp thân đây vì lấy chân như bản tánh làm thân nên cũng gọi là Tự tánh thân Pháp tánh thân.

Bên cạnh đó, tinh thần Phật giáo đại thừa sử dụng giáo pháp Pháp thân của Phật giáo nguyên thủy, kết hợp với hiểu biết của chư tăng trong hiện đại, sửa đổi thành pháp thân của Đại thừa gọi là thanh tịnh pháp thân mà về sau được kinh Hoa nghiêm diễn dịch là thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na.

Giáo pháp là di chúc vả chư tăng thanh tịnh lá sự sống. Vì vậy chư tăng hòa hợp nhau thanh tịnh chế định ra giáo pháp, tức nguyên tắc sống phù hợp, lợi lạc an vui, được coi là pháp thân Phật thuyết ra. Ý thức như vậy, Phật giáo Đại thừa chủ trương lấy thanh tịnh pháp thân làm chuẩn mực tu hành. Tuy nhiên, cần chú ý phải hòa hợp thanh tịnh thực sự từ đáy lòng, không phải chỉ hòa ngoài mặt hay hòa trên đầu môi chót lưỡi. Thiết nghĩ khi chư tăng hòa hợp thanh tịnh, chế định được gì thì cái đó tồn tại.

Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh nòng cốt của Phật giáo đại thừa. Theo Tông Hoa Nghiêm này quan niệm pháp thân Phật cũng có 5 loại, nên gọi là Ngũ chủng pháp thân:

1. Pháp tánh sanh thân: Thân Như Lai từ pháp tánh chân thật sanh ra, Ngài Quy Sơn nói:

“Vô bất tùng dữ pháp giới lưu

Diệc bất hoàn quy dữ pháp giới”

Tất cả các pháp đều từ pháp giới xuất hiện nhưng cuối cùng cũng trở về pháp giới. Thế nên, tự tánh thanh tịnh pháp giới sanh ra từ thân nên gọi là tự tánh sanh thân, không có thân riêng biệt ngoài tự tánh thanh tịnh. Thí như từ trước có cây nước đá, nếu nước đá tan sẽ trở về nước. Đây đứng về mặt lưu xuất mà nói.

2. Công đức pháp thân:

Đứng về mặt diệu dụng, thân Như Lai do muôn vàn công đức thành tựu, công đức sẵn có trong tự tánh vô tham, hỷ xả không thiếu nên khi hình thành thân có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Nên gọi là diệu dụng. Pháp thân này có diệu dụng hằng sa công đức.

3. Biến hóa pháp thân: Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Phật thân sung mãn ư thâp phương

Phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền

Tùy duyên phó cảm mỵ bất châu

Nhi thường xử thử Bồ Đề tòa”

Nghĩa là: Chỉ thân Phật hiện hữu khắp mười phương. Hiện  ra trước mắt tất cả chúng sanh, tùy theo duyên chúng sanh mà Phật hiện ra. Nhưng Ngài vẫn ngồi yên ở Bồ Đề đạo tràng. Là chúng sanh có cảm thì Như Lai ứng hiện tùy hình hóa độ.

4. Thật tướng pháp thân: Đứng về mặt hiện tượng, kinh Pháp Hoa nói:

Chư pháp tùng bản lai

Thường tự tịch diệt tướng”

Nghĩa là: Tất cả các pháp từ xưa đến nay, tướng thường tự vắng lặng. Ngài Tường Vân nói:

“Pháp thân vô trọng diệc vô khinh

Uổng nhập trần lao chỉ vị tình

Nhứt niệm hồi quang tiêu lụy kiếp

Hà lao chướng ngại vấn thiền huynh”

Nghĩa là:

Pháp thân không tướng nên không nặng cũng không nhẹ

Luống vào sanh tử chỉ vì chấp mê lầm

Trong một giây phút chực nhớ lại thì tất cả phiền não đều chấm dứt

Cần gì phải chướng ngại hỏi  thiền các vị thiện tri thức”

 

Pháp thân không có nặng, nhẹ, cao, thấp nên nói vô tướng pháp thân.

 

5. Hư không pháp thân: Thân Như Lai đầy khắp hư không, bao quát vạn hữu. Kệ kinh Duy Ma Cật nói:

“Ví như hoa Sen không thấm nước

Khéo vào các pháp tịch diệt tướng

Các pháp rỗng vang không chướng ngại

Đãnh lễ đấng không tướng tợ hư không”.

Nghĩa là: Pháp thân Phật ví như Hoa sen xuất hiện giữa bùn nhơ, thể nhập được tướng tịch diệt các pháp, khả năng và các pháp không chướng ngại Đãnh lễ pháp thân Phật không tướng giống như hư không.

Như vậy ta thấy theo kinh Hoa Nghiêm quan niệm Pháp thân Phật rất rộng lớn.

Quả thật, Như Lai dùng trí thân, tức dùng trí tuệ Như Lai tác động chúng sanh, khiến họ phát tâm Bồ Đề chúng sanh chịu sự chi phối của trí thân gồm cả hữu tình và vô tình chúng sanh tức nhứt thiết pháp. Tất cả pháp, không có pháp nào mà trí tuệ Như Lai không chiếu tới được. Trí Như Lai chiếu tới đâu thì biến các pháp ấy thành Pháp thân của đức Phật. Đó là điểm then chốt của kinh Hoa Nghiêm quan niệm về đức Phật. Trí tuệ Phật chiếu vào một cư sĩ hay tu sĩ, tác động họ phát tâm; chiếu vào tất cả sự vật thì làm vật đó biến chuyển thành Pháp của Phật.

Ví dụ trí tuệ Như Lai tác động vào chúng ta khiến ta phát nguyện theo Phật đạo và cũng tác động qua các pháp, biến gạch ngói, đất đá thành chùa chiền, tu sĩ, tín đồ, chùa, cảnh vật, pháp khí hiện hữu để Phật pháp tồn tại phát triển, thì tất cả đều là Pháp thân của Đức Phật. Quang cảnh thiền môn tuy không phát ra âm thanh nhưng tác động cho người hình dung ra Phật, liên tưởng đến cách sống của Ngài và họ phát tâm tu theo, tức pháp thân của Phật đã thuyết pháp.

Có thể nói, Pháp thân Phật theo tinh thần Hoa Nghiêm được triển khai thật rộng lớn. Kinh Hoa Nghiêm quan niệm tất cả pháp, kể cả sơn hà đại địa đều nhận lực chi phối của trí huệ Như Lai, đều là Pháp thân Phật. Từ căn bản ấy, tất cả mọi sự vật trên cuộc đời đều biến thành Phật pháp nếu có huệ Như Lai rọi vào. Một miếng gỗ, cục đá hay đồng chì đều biến thành Phật khi người tạo ra nó hoặc chiêm ngưỡng, kính lễ nhận được huệ Như Lai, có ý niệm về Phật. Trái lại, không có huệ Như Lai đầu tư vào, thì đất đá vẫn là đất đá. Triển khai mạnh về ý nghĩa này, kinh Hoa Nghiêm chủ trương bằng mọi cách phát huy được Như Lai huệ để chiếu sáng vào lòng cuộc đời vào vũ trụ biến tất cả thành Phật pháp.

Như vậy, dù theo quan niệm Tiểu thừa hay Đại thừa, ta thấy Pháp thân Phật là thường trụ biến khắp pháp giới, là thể tánh của các pháp. Từ thể (pháp thân) sanh ra tướng (báo thân) và dụng (ứng thân). Tuy nói ba thân nhưng không lúc nào rời nhau ba thân nhưng chỉ là một thể.

Do đó, kinh Pháp Bảo Đàn có bài kệ:

“Ba thân vốn ngã thể

Bốn trí tại tâm mình

Thân trí dung hòa không chướng ngại

Ưng hóa theo duyên mặc tùy hình”.

C.     KẾT LUẬN:

Đức Phật đầy đủ ba thân, nên Ngài đi vào cuộc đời làm muôn hạnh để cứu độ chúng sanh. Nhưng sau đó Ngài lại nói không có chúng sanh nào được cứu độ cả, vì pháp thân là vô tướng thì làm sao có năng độ và sở độ.

Từ báo thân viên mãn, đầy đủ phước đức, trí tuệ, đức Phật dùng vốn quý giá ấy để cấu tạo thành pháp thân. Pháp thân không phải là cái gì siêu hình, trừu tượng ở trong hư không. Bằng trí tuệ của bậc chánh tri biến tri, đức Phật biết rõ và vận dụng được nguyên lý tạo nên con người và thế giới. Từ đó mọi vật, mọi hiện tượng trong trời đất, mọi việc của các loài đều không chướng ngại đối với Ngài. Và hơn thế nữa, Đức Phật chi phối toàn bộ các pháp sử dụng chúng một cách tự tại; các pháp trở thành thân Ngài. Đức Phật sử dụng pháp thân chuyển hóa xã hội đương thời, lúc ấy sanh thân Phật trở thành pháp thân hay được coi là pháp thân. Sanh thân không còn hiện hữu mà pháp thân vẫn thường trụ vĩnh hằng được vô số tâm hồn lớn nối tiếp, tạo thành mạng mạch Phật giáo lưu truyền, lợi lạc cho chúng hữu tình qua suốt 25 thế kỷ.

Có thể nói cách khác Pháp thân Phật vĩnh hằng, nhưng từ tổng thể phát sinh ra Báo thân và ứng Hóa thân Phật có đổi khác. Từ tổng thể pháp thân hiện ra hoạt động của báo thân trong trời đất, tùy duyên cứu độ chúng sanh bằng mọi cách, không ngừng nghỉ. Đó là hiện hữu của Như Lai bất động mà biến hóa lợi ích không cùng.

Chúng ta cũng có pháp thân, nhưng vì không có báo thân viên mãn, tức không đầy đủ trí tuệ đạo đức, nên pháp thân không hoạt động, được kinh gọi là Như Lai tại triền, ví như vàng bạc có trong quặng mỏ, nhưng không biết khai thác, không dùng được. Đức Phật cũng mang thân tứ đại ngũ uẩn như mọi người, nhưng Ngài biết dùng sanh thân ấy để tạo thành pháp thân và báo thân và đạt quả vị vô thượng đẳng giác. Trong khi chúng sanh phát triển nghiệp và phiền não, đời đời kiếp kiếp trôi lăn trong sanh tử khổ đau.

Trên nền tảng cuộc sống bình thường của sanh thân, đức Phật phát triển tinh thần, tăng trưởng trí tuệ và đạo đức để nuôi lớn báo thân, tác động đến mọi người, mọi việc. Nói chung là Ngài điều động được các pháp một cách tự tại, tức sử dụng được pháp thân. Chúng ta nếu muốn được như đức Phật thì phải nỗ lực tu tập, trau dồi phước đức, phát triển trí tuệ với chí nguyện vững bền mới có thể hội nhập thể tánh Như Lai vĩnh hằng:

“Một lòng kính lạy Phật đà

Ngàn đời con nguyện ở nhà Như Lai

Con nguyền mặc áo Như Lai

Con ngồi pháp tọa Như Lai muôn đời.”

 PHẦN CÂU  HỎI

 1. Nguồn gốc của tam thân?

Tam thân được thành lập dựa trên cơ sở 10 thân trong kinh Hoa Nghiêm.

2. Bát tướng thành đạo là gì? Đó là:

1. Giáng sanh                            2. Nhập thai

3. Thụ thai                                4. Xuất thai

5. Xuất gia                                6. Thành đạo

7. Chuyển pháp luân                 8. Niết bàn.

3. Theo Tiểu Thừa Phật giáo quan niệm Ngũ phần pháp thân đó là gì?

1. Giới pháp thân                      4. Giải thoát pháp thân

2. Định pháp thân                     5. Giải thoát tri kiến pháp thân

3. Huệ pháp thân

4. Theo Đại thừa Phật giáo quan niệm Pháp thân có mấy loại?

Có 5 loại:

1. Pháp tánh sanh thân

2. Công đức pháp thân

3. Biến hóa pháp thân

4. Thật tướng pháp thân

5. Hư không pháp thân

5. Ba thân: Báo thân, Ứng hóa thân và Pháp thân là ba thân khác nhau phải không?

Không. Pháp thân Phật là thường trụ biến khắp pháp giới. Từ thể là Pháp thân sanh ra tướng là Báo thân và dụng là Ứng thân. Tuy nói ba thân nhưng không lúc nào rời nhau, ba thân nhưng chỉ là một thể.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 11 Tháng 11 2009 11:28