Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

Đề 9: Tứ Niệm Xứ

Thứ tư, 29 Tháng 7 2009 11:57 Hiếu Thảo
In PDF.

A. MỞ ĐỀ:

  Tứ niệm xứ là một phương pháp tu tập để giác ngộ hoàn toàn, đồng thời cũng là một nghệ thuật sống lành mạnh. 
B. CHÁNH ĐỀ:

I. Định Nghĩa Tứ Niệm Xứ.

II. Nội Dung Tứ Niệm Xứ:
1. Quán thân bất tịnh
2. Quán tâm vô thường
3. Quán pháp vô ngã
4. Quán thọ thì khổ

C. KẾT LUẬN:

        Nắm vững bốn sự thật ấy thì sự tu hành vững chắc, làm cơ sở tiến đến quả vị an lạc, giải thoát.
PHẦN NỘI DUNG

 A. MỞ ĐỀ:

Hạnh phúc thực sự trong cuộc sống không chỉ đơn thuần đạt được bằng các phương tiện vật chất, cũng như những tiến bộ do nền khoa học hiện đại mang lại, mà còn cần phải được kết hợp với sự phát triển về tinh thần theo một định hướng cao thượng trong lành, bằng một phương pháp đúng đắn. Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bình và hạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tụ tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau, được đức Phật - bậc thầy của chư thiên và nhân loại tuyên bố trong bài kinh Đại Niệm Xứ.

Ngày nay đời sống con người bận rộn với bao công việc như sinh hoạt hàng ngày, giao tế xã hội, phụng sự đất nước v.v… Mặc dù có quá nhiều công việc trong một kiếp sống quá ngắn ngủi như vậy nhưng chính cõi người lại cho ta những cơ hội tốt nhất để đắp bồi và những thành tựu các pháp Ba la mật, chứng đắc hạnh phúc Niết bàn, nơi mọi khổ đau đều được diệt tận. Chư Phật Toàn giác, Độc giác, Thanh Văn giác đều thành tựu Ba La mật và nhập Niết bàn trong chính cõi người. Đã biết rằng “Nhân thân nan đắc” thì một khi được sanh làm người, điều cốt yếu là phải biết tận dụng thời gian tu tập Tứ Niệm Xứ. Chỉ bằng một công việc đơn giản là chú tâm. Tứ Niệm Xứ một mặt sẽ mang lại kết quả là đoạn tận phiền não như tham, sân, si v.v… (vốn luôn luôn lôi kéo chúng ta vào bốn đường ác đạo để rồi lãnh chịu đau khổ), mặt khác cũng đồng thời tăng trưởng Định và Tuệ, là pháp có thể đưa chúng ta đến nơi cao thượng nhất là Niết bàn. Vậy khi đang sống kiếp sống của một con người, chúng ta hãy cố gắng tu Tứ Niệm Xứ ngõ hầu nhận được phần thưởng có giá trị nhất cho chính mình.

B. CHÁNH ĐỀ:

I. Định nghĩa:

Tứ là bốn, Niệm là hằng nhớ nghĩ, Xứ là nơi chốn => Tứ Niệm Xứ là bốn chỗ, bốn điều mà kẻ tu hành thường để tâm nhớ nghĩ đến. Đó là:
Quán Thân bất tịnh
Quán Tâm vô thường
Quán Pháp vô ngã
Quán Thọ thì khổ

Thế Tôn  dạy: “Thế nào Tứ Niệm Xứ. Này các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân nơi thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, sống quán thọ nơi các thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, sống quán tâm nơi các tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, sống quán pháp nơi các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời”.

Vậy, Tứ Niệm Xứ là một phương pháp tu tập để giác ngộ hoàn toàn, đồng thời cũng là một nghệ thuật sống lành mạnh. Nếu Tứ Niệm Xứ đưa đến sự giác ngộ và tô điểm cho một nghệ thuật sống thì không dành riêng cho ai cả ma ai cũng có thể tu tập và thực hành được. 

II.  Nội dung Tứ Niệm Xứ:

Tu tập Tứ Niệm Xứ là để có hạnh phúc và an lạc cho hiện tại.  Tứ Niệm Xứ là suối nguồn của tình thương và sự giác ngộ. Như vậy, chúng ta hãy ưu tiên thực tập pháp môn này hằng ngày trong cuộc sống.

1. Quán thân bất tịnh:

Quán nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát cho thấu đáo. Bất tịnh nghĩa là không sạch. Quán thân bất tịnh nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát một cách tường tận về sự dơ bẩn của cái thân ta. Nói cái thân bất tịnh, chắc có nhiều người ngạc nhiên, phản đối cho là Phật đã nói quá đáng. Trong đời còn cái gì là quý báu hơn cái thân đâu? Người ta bảo bọc nó cung phụng nó đủ điều. Người ta cung cấp cho nó đủ thứ ngon vật lạ, người ta đùm bọc nó trong hàng lụa là gấm vóc, che chở nó trong nhà cao cửa lớn, người ta dám làm tất cả những việc bất nhân tổn đức để cho nó được sung sướng. Cái thân được quý trọng như thế mà bảo rằng nó là dơ bẩn, gớm ghiếc thì ai mà nghe được.

Song bình tĩnh mà xét lại cái thân này thật không có gì mà trong sạch cả. Ngay từ khi mới đầu thai, cái thân này đã bất tịnh rồi, vì nó là do hai thứ nhơ nhớp là tinh cha huyết mẹ cấu thành. Ở trạng thái đầu tiên nó chẳng khác gì một con hộ trùng, rồi dần dần lớn bằng hạt đậu rồi bằng miếng thịt, nằm lẫn trong máu me nhơ nhớp. Về sau, nhờ sự duy trì của nghiệp thức nó tượng thành hình người, chìm ngập trong một cái bọc máu huyết. Cái thân nằm co rút trong đó cho đến chín tháng mười ngày rồi theo con đường bẩn thỉu để chun ra khỏi bụng mẹ. Từ đó, nhờ những thực phẩm phần nhiều cũng không được tinh khiết gì như thịt, cá mà cái thân lớn dần. Chưa nói đến đâu xa, cái thân này vài ngày chưa tắm đã thấy bẩn thỉu, rít rấm, cái miệng sáng dậy chưa súc đã nghe có mùi hôi. Trong thân chín lỗ như mắt, tai, mũi v.v… thường bài tiết ra những đồ bất tịnh. Đó là mới nói bề ngoài, bề trong thân người lại dơ hơn thập phần. Khi mổ bụng một con gà, con heo ta thấy nào là bọc chứa, ruột non, ruột già, tim, gan, phèo phổi… như thế nào thì các bộ phận trong cơ thể ta cũng chẳng khác gì thế ấy.

Hơn nữa, khi đau ốm lại càng dễ sợ hơn, nhất là những bệnh nan y như lao, cùi, hoa liễu… thì thật không ai dám lại gần. Đó là khi trẻ, còn khi già đầu bạc răng long, lưng còm, da nhăn, má hóp, đi đứng yếu ớt, không còn đủ sức để sửa soạn bề ngoài thì lại càng nhớp nhúa hơn nữa. Đến khi chết, nghiệp thức không còn duy trì để thay lớp mới, đổi lớp cũ thì da thịt rã rời, đụng đâu rệu đấy. Nếu không đem chôn cất cho kín thì ruồi bọ, dòi rút rỉa, mùi hôi thối xông lên không ai chịu nổi.

Vậy, cái thân này quả là bất tịnh, không còn chối cải vào đâu được. Nhưng người đời vì không xét kỹ nên mới yêu quý nó, cung dưỡng nó đủ điều. Hể thân ưa thì mình ưa, thân ghét thì mình ghét, làm nô lệ cho thân, gây nghiệp, chịu quả báo đời đời kiếp kiếp không dứt. Cũng vì thân mà tham, sân si nổi lên, cũng vì thân mà sát, đạo, dâm sinh ra, cũng vì thân mà vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, át khẩu hình thành. Trăm ngàn vạn điều tội lỗi cũng vì quá cưng dưỡng cái thân này mà tạo thành.

Vậy hành giả cần quan sát rõ cái thân là bất tịnh mới tránh được những nghiệp tham ái. Nhưng quan sát thế nào?

Xưa ở Ấn Độ, khi một hành giả muốn quan sát thân bất tịnh, thì tìm đến khu rừng người ta bỏ xác người chết, để quán theo lối quán mà Đức Phật đã dạy: Ngày đầu tiên ở bên cạnh người chết quán thây sình trướng to lên; ngày thứ hai quán thây vì gió nắng xanh xám; ngày thứ ba thây bị rã nát; ngày thứ tư quán thây máu thịt rơi rớt lai láng; ngày thứ năm quán thây chết da thịt rục rã; ngày thứ sáu quán chim thú đến mổ ăn thây; ngày thứ bảy quán sau khi chim thú ăn, gân xương, đầu mình, tay chân nát vỡ, ngày thứ tám quán huyết thịt đã hết, chỉ còn bộ xương trắng bừa bãi, ngày thứ chín quán bộ xương trắng đốt cháy thành tro.

Một khi phép quán này đã thuần thục, thì kẻ tu hành thấy một cách tường tận như ở trước mắt, thân mình và tất cả mọi người đều bất tịnh, không có gì đáng quý chuộng, ham muốn. Do đó, có thể đối trị được bệnh tham sắc dục là một bệnh rất trầm trọng và nguy hiểm của con người. Nhưng quán thân bất tịnh là để trừ lòng tham sắc dục, chứ không phải để ghê tởm thân mình, đến nỗi đi hủy bỏ mạng sống như sáu mươi vị tỳ kheo trong thời Phật Tại Thế, sau khi quán thân bất tịnh thuần thục rồi thấy ghê tởm mình và người chung quanh đến nỗi thuê người giết đi. Đấy là một điều mà Đức Phật nghiêm cấm. Ngày nay, chúng ta không có được huệ nhãn như Phật để hiểu thấu đáo nhưng như thế cũng đủ cho ta quan niệm rằng cái đẹp chỉ là bộ mã bên ngoài chứ bên trong bộ xương, người nào cũng giống nhau cả. Chúng ta cũng biết “Nhân thân nan đắc”, nên phải biết lợi dụng cái thân này làm phương tiện để tụ tập, không nên đắm nhiễm vào thân quá mà phải khổ. Nếu chưa đủ phương tiện để thực hành phép quán ấy thì cũng đừng bao giờ quên rằng: Thân người không trong sạch, không có gì đáng say mê đắm đuối để đến nỗi gây ra bao nhiêu tai hại tội lỗi không lường cho mình và người chung quanh. Phải luôn nhớ:
“Đời là mộng sao ta còn mê mãi
Tấm thân này do tứ đại hóa duyên
Đưa ta vào trong bể khổ triền miên
Mà cứ tưởng sống trên đường hạnh phúc”

2. Quán tâm vô thường:

 Tâm vô thường nghĩa là cái tướng của tự tâm chúng ta luôn luôn đổi thay, không thường. Cái tướng của tự tâm là gì, chính là cái phân biệt hiểu biết hằng ngày, là cái thức. Đức Phật dạy “không chỉ có thân vô thường mà tâm niệm của chúng sanh cũng âm thầm dời đổi, lại có phần mau lẹ và vi tế hơn. Nếu chúng ta không nhìn sâu vào thì khó mà thấy được, có câu rằng: “Con người cái ý vốn hai
Khi mừng khi giận đổi thay khôn lường”

Vâng! Cái tâm nó luôn thay đổi trong từng giờ từng phút cho nên Đức Phật ví “Tâm người như vượn chuyền cây, như ngựa rong chơi ngoài đồng nội”, chẳng khác nào từng đợt sóng vỗ ngoài biển khơi có rồi mất, mất rồi có. Người không học Phật thì không nhận biết thể chơn như rộng lớn cũng khắp cả vũ trụ mà nhận lầm cái phân biệt, cái thức là ta và cho rằng cái ta ấy thường còn không thay đổi như những ngoại đạo chấp có thần ngã hay có linh hồn thường trụ. Nhưng sự thật không phải thế: Cái tâm của chúng ta không thường chút nào hết, nó thay đổi luôn, khi nhỏ khác, khi lớn khác, khi có học khác, khi chưa học khác, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét.
Cái ta phút trước không phải là cái ta phút này
Cái ta phút này không phải là cái ta phút sau.

Nó là tâm pháp vô thường, thay đổi đủ cách, tùy chỗ tụ tập của mình mà tiến hóa. Nếu tâm là thường thì không có sanh tử. Nếu tâm là thường thì dù có tu hành cũng không tăng trưởng, người dốt cứ dốt, người dữ cứ dữ...  

Nếu tâm là thường thì không có nhân quả. Tu cũng chừng ấy, mà không tu cũng chừng ấy.

Vì muốn đối trị cái vọng chấp kia, nên Phật mới dạy phép quán “Tâm vô thường” để cho chúng sanh nhận biết rằng cái tâm không phải như một vật bất biến vô dụng, không phải là cái “Ta” chắc thật muôn đời, rồi nương vào đó mà sanh ra không biết bao nhiêu là vọng tưởng, phiền não. Những tánh tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v...   điều do ngã chấp mà sanh ra cả. Nhờ quán tâm vô thường ta mới thấy được cái tâm ta, niệm niệm  nối nhau dấy khởi, huyển hóa, mơ hồ. Niệm trước khởi, niệm sau diệt, nối nhau đi vào sanh hóa của tâm linh. Vòng sanh hóa ấy ta không thể đo được chiều sâu cạn. Bởi thế tâm này lúc nào cũng sanh diệt liên miên bất tận. Trong Quy Sơn Cảnh Sách đã nói rõ về tâm của chúng ta:
“Niệm  niệm tấn  tốc nhứt sát na gian.
Chuyển tức tức thị lai sanh.
Hà nãi yến nhiên không quá”.

Có nghĩa là niệm niệm sanh diệt qua mau, trong một sát na đã chuyển qua đời khác. Tại sao chúng ta lại khoanh tay nỡ để ngày tháng luống qua mau...

 Dòng tâm thức sanh diệt ấy, nó chính là vọng tưởng điên đão của lớp vô minh trùng trùng điệp điệp cuốn hút chúng sanh vào bể khổ sanh tử, vì chấp chặt vào tâm thức, vào ý tưởng điên đão mà sanh ra tham, sân, si, ái v.v... chạy theo trần cảnh bỏ mất đi bản tâm vốn thanh tịnh trong sáng, thường trú bất sanh bất diệt.

Vậy, chúng ta cần phải quán sát cái “Tâm vô thường” đổi cái tâm mê lầm ra cái tâm giác ngộ, phải trừ ngã chấp để ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. 

3. Quán pháp vô ngã:

Pháp, theo tiếng Phạn là Dharmma. Tạm dịch là quỷ trì, nghĩa là nắm giữ phạm vi của mình như vuông, dài, tròn, méo... để mỗi khi người ta trông đến liền nhận biết cái này vật gì, và khỏi lẫn lộn với vật khác. Nghĩa chữ pháp rộng mênh mông, chỉ cho tất cả mọi sự vật trên vũ trụ, cho đến các vật vô hình tưởng tượng như long rùa, sừng thỏ cũng gọi là pháp cả.

Còn ngã nghĩa là chủ tể, là riêng có tự tướng của mình. Người ta thường chấp các pháp đều có tự tướng, có cái ngã riêng biệt. Người có tự tướng của người, vật có tự tướng của vật. Đã chấp có tự tướng của mình, tất nhiên thấy có tự tướng của người khác, hể thuộc về mình thì không thuộc về người khác, còn thuộc về người khác thì không thuộc về mình. Do đó sinh ra tâm niệm nhân, ngã, bỉ, thử, quý trọng, khinh rẻ, tranh chấp, đấu tranh trong xã hội.

Song, xét cho kỹ thì các pháp nào có tự tướng nói về lục trần thì sắc đối với không, động đối với tịnh, sanh đối với diệt... nào có cái gì riêng một mình thật có tự tướng đâu? do trần đối với căn mà có hình tướng, căn đối với trần mà có tác dụng, ngoài trần không có căn, ngoài căn không có trần. Như thế, thì biết tất cả các pháp, dù căn, dù trần cũng đều không có tự tướng. Trong Kinh Lăng Nghiêm có câu:”Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sanh. Nhân duyên biệt ly, hư vọng hữu diệt”. Nghĩa là các nhân duyên nhóm họp thì giả dối có sanh, các nhân duyên chia rẻ thì giả dối có hoại diệt. Vậy đủ biết: tất cả các pháp làm nhân duyên cho nhau, in tuồng là có, chứ không có tự tướng. Không có tự tướng tức là vô ngã.

Ví như trong giấc chiêm bao, vì nhân duyên chiêm bao hiện ra thấy có cảnh này cảnh khác. Trong lúc ấy, người chiêm bao cũng lầm tưởng là thật có, đến khi thức dậy, mới nhận ra đó là cảnh giả dối trong chiêm bao. Chúng ta cũng thế, vì mê lầm nên không nhận ra được sự giả dối của sự vật. Trong khi tâm duyên với cảnh, cảnh duyên với tâm, vạn pháp hiện ra giữa vũ trụ chúng ta tưởng là thật có. Thật ra, các pháp đều không có tự tướng, đều là”Vô ngã”.

Chúng ta không biết lý”Pháp vô ngã”, cho nên ngoài bị hoàn cảnh kích thích, trong bị phiền não lay động, quay cuồng theo sự múa rối của giả cảnh, vì thế, tuy muốn tự tại mà chưa lúc nào chúng ta được tự tại, muốn an vui mà chưa lúc nào được an vui, muốn thường trụ mà vẫn phải trôi lăn trong vòng sanh tử... 

Nếu chúng ta chứng được pháp vô ngã rồi, thì một thể vô ngã trùm khắp cả pháp giới.  Cảnh cũng vô ngã, tâm thức cũng vô ngã thì còn cái gì mà ghét, mà thương, mà phải chịu sanh tử luân hồi nữa.

Pháp vô ngã là lối tu giải thoát rốt ráo. Nếu ai ai cũng biết tu hạnh vô ngã một đôi phần thì đâu có sự ích kỹ hại nhân và cảnh tượng thế giới hòa bình đâu phải là một điều không thể thực hiện được.

4. Quán thọ thì khổ:

Thọ là chịu, nhận lãnh. Thọ thì khổ nghĩa là có nhận lãnh là có khổ. Nhận lãnh đây là nhận lãnh cái gì? Và vì sao nhận lãnh lại khổ?

Nhận lãnh ở đây có một nghĩa vô cùng rộng lớn, nghĩa là nhận lãnh tất cả những gì mà người đời có thể nhận được trong cuộc sống. Trước tiên nhận lãnh cái thân này, cái tâm này là riêng của ta. Sự thọ nhận này là nguồn gốc đầu tiên để thọ nhận những cái khác về sau: Để giữ gìn thân mạng ta thọ cái ăn, cái mặc, ở, thọ sắc, thanh, hương, vị, xúc; thọ những gì khiến cho ta thích thú, vui vẻ. Từ cái thọ cần thiết cho cuộc sống, tiến dần đến cái thọ ít cần thiết, rồi đến cái thọ xa xỉ, thừa thải vô ích. Nhưng vì thói quen góp nhặt, tham lam, ta không thể bỏ qua được. Nói tóm lại, mỗi chúng sanh, mỗi cuộc đời là một chuỗi thọ nhận liên tiếp. Và chính sự thọ nhận ấy là mầm chính của đau khổ.

Trước tiên ta thọ nhận cuộc đời, nhưng cuộc đời là gì nếu không phải là một trường đau khổ, nào là sanh, lào, bệnh tử, yêu phải xa lìa, oán mà phải gặp gỡ v.v... rồi khi nhận được cái gì cho là quý thì nơm nớp lo sợ mất đi, lại phải tìm cách để giữ gìn nó. Nhưng cuộc đời đã là vô thường thì còn cái gì là tồn tại mãi đâu? Ngay cuộc đời của ta mà cũng không giữ mãi được thì còn cái gì giữ được nữa? Do đó, sanh ra buồn thương, tiếc nuối, mất ăn, bỏ ngũ. Và càng thọ nhiều chừng nào lại càng khổ dường ấy, kẻ giàu thì sợ mất của, kẻ có địa vị thì sợ mất địa vị, kẻ có người yêu thì sợ mất người yêu, kẻ có danh vọng lớn thì sợ mất danh vọng... 

Nhưng có phải muốn thọ lãnh thì bao giờ cũng được thọ lãnh theo ý muốn đâu? Thọ mà may gặp thuận cảnh thì được thỏa dạ trong phút đầu tiên, nhưng thọ mà gặp nghịch cảnh thì càng thêm đau khổ. Ở đời, thuận cảnh thì ít, mà nghịch cảnh thì quá nhiều. Nên mới có câu:
“Phước bất trùng lai,
Họa vô đơn chí”.

Nhờ biết quán “Thọ thì khổ” nên chúng ta dẹp bớt bệnh tham, là bệnh trầm trọng nhất trong các bệnh phiền não, đã ăn sâu gốc rễ trong lòng chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp. Vậy Phật tử chúng ta phải luôn nhớ lời Phật dạy: “Hễ có lãnh thọ thì có khổ, càng lãnh thọ nhiều thì càng khổ nhiều, càng ít lãnh thọ thì khổ đau càng ít”như Mai An Tiêm đã nói: “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”. Xong, tất nhiên chúng ta không thể xả bỏ tất cả trong một lúc, nhưng xả được chừng nào lại càng nhẹ gánh đau thương chừng đó. Người đời thường cho rằng càng gánh nhiều vàng bạc, châu báu, danh vọng, địa vị, sắc đẹp vui thú, lại càng sướng. Nhưng đã gọi là gánh  thì gánh gì cũng là gánh, và càng gánh nặng thì vai càng đau, chân càng mõi, đi càng chậm, nên khổ càng nhiều. Trái lại, nếu chúng ta không lãnh thọ như sắc đẹp, mùi ngon, vị lạ v.v...  thì thân tâm ta không bị lay động. Đối với cảnh ta thấy không có gì đáng ưa, cũng không có gì đáng ghét, không có gì đáng vui mừng, cũng không có gì đáng khổ sở. Như thế mới được an nhiên tự tại, thoát vòng khổ đau.
“Nếu mai mốt còn vào ra sanh tử,
Bước thăng trầm đâu sá kể nguy nan.
Nếu giờ đây vẫy tay chào cuộc lữ,
Cát bụi này xin trả lại trần gian”.

C. KẾT LUẬN:

Tứ niệm xứ là giáo lý căn bản trong phần Đạo Đế. Có hiểu được giáo lý này một cách tường tận thì sự tu hành mới vửng chắc được. Nó đánh đổ được một cách rốt ráo bốn thành kiến sai lầm lớn lao của con người; Là tưởng thân mình là vĩnh viễn thường còn; Tưởng tâm mình như một linh hồn bất diệt; Tưởng mọi sự vật trên đời này là chắc thật trường cửu; Tưởng thu nhận gom góp được nhiều chừng nào thì sung sướng chừng ấy. Nhưng sự thật lại rất trái ngược:

- Thân thì bất tịnh: như một cái đãy đựng đồ dơ không đáng nâng niu, chìu chuộng.

- Tâm thì vô thường, luôn luôn biến đổi theo hoàn cảnh bên ngoài.

- Pháp thì vô ngã, không có tự tánh nhất định, không chắc thật mà đều là như huyển hóa.

- Thọ thì khổ bởi sự thọ lãnh mọi vật xung quanh và ngay cả ta đều là giả dối, cho nên càng lãnh thọ nhiều lại càng đau khổ nhiều.

Vậy học được Tứ Niệm Xứ, ta phải luôn quan sát ghi nhớ bốn sự thật này để dần dần đình chỉ bớt sự chấp ngã, chấp pháp, tham, sân, si, v.v... 

Càng nắm vững bốn sự thật này chừng nào, thì sự tu hành theo các môn trong Đạo Đế sau này như Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc v.v... mới dõng mãnh và nhanh đạt kết quả an lạc giải thoát.
“Hoa nở, hoa tàn việc thế gian,
Đường tu tự tại cảnh thanh nhàn.
Việc gì cần đến thì ta đến,
Như vậy, trần gian tức Niết bàn”.

 PHẦN CÂU HỎI

 1. Thế nào gọi là Tứ Niệm Xứ? Là bốn điều hằng nhớ đến đó là:

- Quán thân bất tịnh.

- Quán tâm vô thường

- Quán pháp vô ngã

- Quán thọ thì khổ

2. Tại sao phải quán thân bất tịnh?

Bởi vì thân này vốn không thật mà do tinh cha huyết mẹ, tứ đại cùng nghiệp thức phối hợp lại mà thành. Nhưng vì con người không hiểu được nên thường chấp vào nó, chìu chuộng nâng niu và bảo vệ nó, nên sanh ra nhiều đau khổ vì thân. Nên quán thân bất tịnh là để thấy rõ sự thật về thân, để từ đó tránh được những nghiệp tham ái.

3. Đã nói Tâm, Phật, chúng sanh thị tam vô sai biệt thì tại sao chúng sanh phải quán tâm vô thường?

Đúng là tâm Phật và chúng sanh đồng một thể tánh thanh tịnh, sáng suốt, tuy ba mà một. Nhưng vì tâm chúng sanh còn mang nghiệp thức phân biệt, vọng tưởng điên đão tạo ra nhiều phiền não tham, sân, si, ái nhiễm gây ra không biết bao nhiêu phiền lụy. Nếu biết dừng tâm ý, bớt ham muốn, thôi vọng tưởng. Thấy các pháp như thật thì lúc đó tâm ta đồng với tâm Chư Phật, không cần phải quán tường làm gì nữa.

4. Quán thọ thì khổ để đối trị với tâm gì của chúng sanh?

Bởi vì tâm chúng sanh lòng tham rất sâu nặng, ham muốn không biết dừng nghỉ. Nhờ quán thọ thì khổ mà đối trị được tâm tham. Nhờ đó mà lòng bớt được gánh nặng lo âu về sự ham muốn không ngừng đó, làm cơ sở để tu tiến.

5. Giá trị pháp quán Tứ Niệm Xứ  trong cuộc sống?

Nhờ pháp quán này giúp cho con người phá trừ được bốn định kiến sai lầm là tưởng thân mình, tâm mình là vĩnh viễn thường còn, tưởng sự vật trên đời này là có thật, tưởng thọ nhận nhiều thì hạnh phúc. Nhờ thấy rõ phép quán sự thật là thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngã, thọ thì khổ nên tinh thần an ổn, dễ bề tu tiến, không còn bị hoàn cảnh chi phối, vướn bận. Cho nên có thể nói Tứ Niệm Xứ là một phương pháp tu tập để giác ngộ hoàn toàn, đồng thời là một nghệ thuật sống lành mạnh.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 11 Tháng 11 2009 11:29