Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

KỶ YẾU LỚP CAO CẤP GIẢNG SƯ KHÓA IV

Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 01:40 Hiếu Thảo
In PDF.
THEO BƯỚC CHÂN HOẰNG PHÁP là Kỷ yếu của Lớp Cao cấp Giảng sư Khóa IV. Xin lần lượt trích giới thiệu đến chư Tôn đức cùng quý độc giả. Kính mời đón xem và góp ý bổ khuyết, để làm tiền đề, kinh nghiệm cho các khóa sau hoàn chỉnh tốt đẹp hơn.

Theo bước chân
 
       Hoằng Pháp 
 
 
 
 
    NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP. HỒ CHÍ MINH


LỜI GIỚI THIỆU
 
Kể từ thời khắc lịch sử thống nhất các hệ phái Phật giáo, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, từ nhiệm kỳ I đến nhiệm kỳ VI, tôi được Giáo Hội cử làm trưởng Ban Hoằng Pháp Trung Ương. Suốt hơn 25 năm hoạt động, Ban Hoằng Pháp Trung Ương đã có những thành tựu to lớn trong công tác Phật Sự Giáo Hội giao phó đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của Phật Giáo Việt Nam. Nằm trong chương trình phát triển của Ban Hoằng Pháp, các lớp đào tạo và bồi dưỡng giảng sư ngắn hạn được tổ chức liên tục hằng năm, đáng kể nhất là các khóa đào tạo giảng sư chính quy dài hạn, từ khóa Thiện Hoa, Trí Thủ đến các khóa Cao - Trung Cấp Giảng Sư, nhằm tuyển chọn những nhân tố trẻ, có năng lực và nhiệt huyết để kế thừa các bậc tôn túc đi trước trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Trải qua các khóa đào tạo, Ban Hoằng Pháp bước đầu đã thu được những thành quả tích cực.
Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư khóa IV, niên khóa 2006 – 2008 sắp mãn, ban tổ chức và giảng sinh đang tích cực chuẩn bị cho lễ tốt nghiệp. Ban đại diện lớp đến trình cho tôi tập kỷ yếu Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư, tôi đã xem qua và thấy đây là việc làm rất có ý nghĩa của tập thể lớp để cảm niệm các bậc ân sư khả kính, ban tổ chức và nhưng ân nhân bảo trợ cho kháo học suốt thời gian qua, đồng thời ghi lại quãng thời gian khó quên về tình huynh đệ pháp lữ đồng học, cùng chung dưới mái trường Hòa Khánh, những kỷ niệm vui buồn khó phai của tổi học trò.
Tôi xin trân trọng giới thiệu đến chư tôn đức Tăng – Ni và quý Phật tử gần xa, rất mong quý vị đồng tình ủng hộ.
                                                           
                                                                        Hòa thượng Thích Trí Quảng
               Trưởng ban tổ chức hai Lớp Đào tạo Cao – Trung Cấp Giảng Sư

Lời nói đầu
Thời gian như dòng chảy vô tình cuốn đi muôn vạn vật, nhưng cũng chính thời gian đã cho chúng ta thật nhiều điều. Những ai biết trân trọng, sử dụng quỹ thời gian một cách hợp lý trong quảng đời của mình, thì thời gian trở thành người bạn đồng hành tích cực.
Hơn hai năm ngồi trên Giảng đường lớp Cao cấp Giảng sư, chúng con được chư Tôn đức Giáo thọ sư hết lòng chỉ dạy, truyền trao những kỹ năng, nghệ thuật thuyết giảng trước thính chúng. Biết bao cung bậc cảm xúc chúng con đã trải qua từ lúc thi tuyển, cho đến những giờ hồi hộp lo lắng trong các buổi thực tập trên bục giảng, rồi thi học kỳ… và giờ đây là thi diễn giảng tốt nghiệp.
Hơn hai năm rèn luyện, chúng con hầu như đều cảm thấy trưởng thành hơn, tự tin hơn trên bục giảng. Trên hết là chúng con cảm nhận được lòng từ bi bao la, sự tin tưởng, niềm hy vọng và nhiệt huyết mà chư Tôn đức truyền trao. Quý ngài thường dạy: “Thân giáo là yếu tố quan trọng nhất trong sự nghiệp giảng sư”. Hành trang chúng con có được là khởi nguồn từ sự giáo dưỡng của chư Tôn đức. Sau hai năm học chỉ là bước khởi đầu cho một lộ trình dài trước mắt, khi chúng con còn phải đối mặt với trường đời đầy gian nan thử thách phía trước, mà một hành giả hoằng pháp phải vượt qua, để thực hiện lý tưởng “Hoằng truyền chánh pháp, lợi lạc chúng sanh”.
Mai này dù đi đâu, về đâu, hình ảnh từ hòa của chư Tôn đức và nghĩa Pháp lữ đồng học luôn đồng hành cùng chúng con trên mọi nẻo đường. Những lúc gặp chướng duyên, hình ảnh thân thương này sẽ là động lực khích lệ chúng con vượt qua khó khăn, để thực hiện chí nguyện độ sanh của mình.
Dẫu rằng năm tháng cứ trôi, những buồn vui ngày nào dưới mái trường Hòa Khánh thân thương vẫn còn đó. Nhưng suối bao giờ cũng ra sông, sông “ rong chơi cuối trời quên lãng” rồi cũng trở về biển cả.
 
Mây vẫn bay và nước cứ trôi
Ai với ai đi về phía chân trời
Sớm mai bước nhẹ trên nhành lá
Lá ngẩn ngơ hoài năm tháng rơi…
Năm tháng rơi!
Tập kỷ yếu “Theo Bước Chân Hoằng Pháp” ra đời là tất cả tấm lòng thành kính tri ân của tập thể Lớp Đào tạo Cao cấp Giảng Sư, dâng tặng chư Tôn đức giáo Thọ sư, Ban Hoằng pháp Trung ương, Ban Tổ chức lớp học và quý ân nhân bảo trợ, các nhà mạnh thường quân, thiện hữu tri thức gần xa.
Ban Biên Tập
 













 





















 
PHẦN 1: VANG MÃI LỜI THẦY

SỨ MẠNG HOẰNG PHÁP VÀ TÂM ĐỨC CỦA VỊ GIẢNG SƯ

I- HOẰNG PHÁP LÀ SỨ MẠNG, LÀ NHIỆM VỤ THIÊNG LIÊNG:
1. Hoằng pháp là sứ mạng của sứ giả Như lai:
“Này chư Tỳ kheo! Hãy luôn du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”.
Thể hiện hạnh nguyện: “Hoằng pháp vi gia vụ, Lợi sanh vi bổn hoài”.
2. Hoằng pháp là thực hiện tinh thần “Nhớ ơn và Làm ơn” của chư Phật và chư tổ:
“Có hai hạng người hy hữu ví như đóa hoa Ưu đàm ngát hương, đó là – Hạng người thứ nhất là biết nhớ ơn và hạng người thứ hai là biết làm ơn”.
(Kinh ĐBNB - phẩm QMBCCQĐV BT)
3. Hoằng pháp là nhiệm vụ thiêng liêng:
Mắt Thế tôn nhìn xa ngoài muôn dặm
Lòng Thế tôn như biển thẳm xanh màu
Tay hiền từ thắp đuốc giữa đêm thâu
Với pháp nhũ đầy vàng châu cảm mến.
Ai lơ lửng tựa thuyền nan không bến
Ai buồn đời không một chút tình thương
Ai thấy mình sao lạnh lẽo thê lương
Mơ kiếp sống đượm mùi hương giải thoát.
Ta về đây - tràn ngập vạn niềm tin
Cho nhân loại quên mình vì Phật lý
Cho bao kẻ lập nên người hiền sĩ
Cho nhẹ nhàng trên lý trí cao siêu.
(Trích KPVT&DN của GS Vương Quốc Đạt)
II- TỰ THÂN TINH TẤN - TĂNG TRƯỞNG TÂM ĐỨC:
1. Tâm đức Thân giáo - Tự thân âm thầm tinh tấn tu tập:
1.1- Tăng trưởng, thành tựu Năm căn, Năm lực:
            a) Tín căn…             Tín lực
            b) Tinh tấn căn…     Tinh tấn lực
            c) Niệm căn…                       Niệm lực
            d) Định căn…                       Định lực
            e) Huệ căn…                         Huệ lực
1.2- Thành tựu Bốn thần túc:
a) Tự tại tam muội hành tận thần túc: Nếp sống thường nhật “Thiểu dục tri túc”, tâm ý an vui, thân thể nhẹ nhàng tự tại, hay ẩn mình thật nhỏ (khiêm tốn), có cũng như không, thấu đạt tinh thần vô ngã…
b) Tâm tam muội hành tận thần túc: Tâm biết các pháp, một phương biến khắp mười phương, xuyên qua vách đá núi non… đều không trở ngại…
c) Tinh tấn tam muội hành tận thần túc:  Lúc nào cũng hiển lộ tinh thần Bi - Trí - Dũng của sứ giả Như lai - không lười biếng, không sợ hãi, không nhút nhác trước mọi hoàn cảnh, mọi thử thách.
d) Giới tam muội hành tận thần túc:  Có các tam muội biết tâm niệm chúng sanh, lúc sanh lúc diệt… thảy đều biết hết. Tâm có dục, tâm không dục; tâm có sân giận, tâm không sân giận; tâm có ngu si, tâm không ngu si; tâm có tật đố, tâm không tật đố; tâm có loạn, tâm không loạn; tâm có nhỏ mọn, tâm không nhỏ mọn; tâm có rộng lớn, tâm không rộng lớn; tâm có độ lượng, tâm không độ lượng; tâm định, tâm không định; tâm giải thoát, tâm không giải thoát; thảy đều rõ biết.
2. Tâm đức Khẩu giáo: nỗ lực tu tập, tự biết nhận ra, kiềm chế, tự biết làm thanh tịnh khẩu nghiệp của chính mình trước khi đem giáo pháp của Đức Như lai truyền dạy cho bá tánh cư gia.
2.1- Những lời nói - Ác, Thiện và Tinh hoa cần nên phân biệt, tu tập:
Trong kinh Tăng Chi, phẩm Ánh sáng, tr.82-84…, Đức Phật dạy:
a) Có 4 hạnh ác về lời nói cần nên tinh tấn đoạn trừ:
- Nói láo, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm.
b) Có 4 hạnh thiện về lời nói cần nên tinh tấn tu tập:
- Nói thật, không nói hai lưỡi, nói lời nhu hòa, nói lời thông minh.
c) Có 4 tinh hoa (lõi) về lời nói:
- Nói về Giới, nói về Định, nói về Huệ, nói về Giải thoát.
2.2- Những ngôn thuyết phi Thánh và Thánh cần nên phân biệt, tu tập:
Trong kinh Tăng Chi, phẩm Diệu hạnh, tr.284-286, bài kinh Cách thức nói, Đức Phật dạy:
a) Có 4 ngôn thuyết phi Thánh (1):
- không thấy nói thấy
- Không nghe nói nghe
- Không cảm giác nói cảm giác
- Không thức trí nói thức trí
b) Có 4 ngôn thuyết bậc Thánh (1):
- Không thấy nói không thấy
- Không nghe nói không nghe
- Không cảm giác nói không cảm giác
- Không thức trí (biết) nói không thức trí (biết).
d) Có 4 ngôn thuyết phi Thánh (2):
- Thấy nói không thấy
- Nghe nói không nghe
- Cảm giác nói không cảm giác
- Thức trí (biết) nói không thức trí (biết).
e) Có 4 ngôn thuyết bậc Thánh (2):
- Thấy nói thấy
- Nghe nói nghe
- Cảm giác nói cảm giác
- Thức tri (biết) nói thức tri (biết).
3. Tâm đức Ý giáo: Tâm ý là kho báu, nơi cất chứa những báu vật tâm linh. Sứ giả Như Lai, hành giả hoằng pháp - tâm ý thanh cao, luôn tự mình biết tích lũy sung mãn những ýnghĩ hiền thiện, thương yêu chúng sinh như cha mẹ thương yêu con mình và phải biết thương yêu như thương con một. Chính sự thân thiện, gần gũi không khoảng cách này tự nó có năng lực cảm hóa. Tâm đức Ý giáo có 2 chi phần căn bản:
3.1- Tứ vô lượng tâm:
Vị giảng sư luôn có nơi mình kho báu Từ Bi Hỷ Xả. Luôn thương yêu chúng sinh, thương yêu cuộc đời, thương yêu con người và lúc nào, ở đâu cũng thể hiện tâm đức siêu mầu cảm độ và hỷ xả mọi lầm lỗi của con người và cuộc đời. Như chúng ta thấy, suốt cuộc hành trình dài 49 năm trên đường hoằng hóa, Đức Thế Tôn luôn cảm độ, nhiếp phục và tiếp nhận cải hóa mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh mà không hề chấp thủ hay phiền muộn.
Từ Bi:
Với tâm ý an lành - một hành giả tha nhân
Luôn du hành trong nhân gian bằng một tâm hồn
Thương yêu con người và thương yêu cuộc đời
Những bước chân hiền hòa trải dài mênh mông…
Hỷ Xả:
Không phiền muộn không buộc ràng
Bằng một tâm hồn quảng đại và bao dung
Thương yêu đời - soi sáng mọi ngóc ngách
Cảm nhận, sẻ chia tất cả những u mê lầm chấp
Như mẹ tìm con… - Cầm tay con, tha thứ dẫn quay về.
3.2- Chỉ rõ con đường đoạn tận khổ đau:
Trong kinh Tương Ưng, tập 4, chương 4, Tương Ưng Jambukhàdaka, bài kinh Vị thuyết pháp, tr.405, có ghi lại câu chuyện một du sĩ ngoại đạo tham vấn về mục tiêu rốt cùng của tinh thần hoằng pháp:
“Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở đời? Những ai là những vị khéo thực hành ở đời? Những ai là những vị khéo đến ở đời?”.
Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất) đáp lời du sĩ ngoại đạo:
“Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận THAM, những ai thuyết pháp để đoạn tận SÂN, những ai thuyết pháp để đoạn tận SI; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.
“Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận THAM, thực hành đoạn tận SÂN, thực hành đoạn tận SI; những vị ấy khéo thực hành ở đời.
“Này Hiền giả, những ai đoạn tận THAM, SÂN, SI… cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây sa la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị khéo đến ở đời”.
III- THỂ HIỆN ỨNG DỤNG TINH THẦN HOẰNG PHÁP: THỜI - CƠ - LÝ
Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã cho chúng ta biết rõ, mục đích Đức Phật thị hiện vào đời là nhằm “khai thị chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật”. Và Đức Phật cũng chỉ cho chúng ta thấy rõ, muốn đạt được mục tiêu, chúng ta phải có phương tiện lực, nhận thức rõ những thực tế liên hệ, đó là: Khế thời, khế cơ và khế lý. Trong nhiều sử sách còn ghi lại cho chúng ta biết, Đức Phật và chư Tổ ba đời khi hiện thân hoằng pháp đều ứng dụng Thời, Cơ, Lý.
1. Khế thời: Hoằng pháp phải biết soi sáng thời duyên. Đức Phật khi còn tại thế, không phải thời, không phải duyên, Ngài cũng không thuyết pháp. Mỗi ngày, vào lúc canh năm, tức gần sáng, Ngài quán nhân duyên tiếp độ trong ngày, rồi mới bắt đầu du hành giaío hóa. Trưởng lão Tu Bồ Đề biết không đủ duyên, không đi khất thực, dù phải nhịn đói, Ngài cũng không đi. Lục tổ Huệ Năng thì dạy: Không đồng kiến, đồng hành… thì không nói pháp; cho nên dù phải mất 16 năm ẩn dật rừng già, chung sống ẩn mình trong đám thợ săn, Ngài cũng vui sống và đến khi thời duyên thuận hợp, Ngài mới đi hoằng hóa.
Thời duyên của chúng ta ngày nay là bao gồm:
Không gian, thời gian, quốc độ và tập quán địa phương.
- Cụ thể, không gian rộng là Trái đất, là thế giới; không gian hẹp là bầu trời Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
- Thời gian hiện nay là thế kỷ 21 (trong thời đại hòa bình, Việt Nam chúng ta đã trải qua ba thời kỳ: bao cấp, đổi mới và hội nhập).
- Quốc độ, nói rộng là đất nước Việt Nam, nói hẹp là thủ đô Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thừa Thiên-Huế, Daklak, Gia Lai, Cần Thơ, Cà Mau… tất cả đều cùng là Việt Nam, nhưng mỗi nơi mỗi cảnh trí, mỗi sắc thái, không thể bắt nơi này giống nơi kia, hay ngược lại.
- Tập quán - Ông bà ta xưa rất tinh tế và vô cùng kinh nghiệm khi cho rằng “Phép vua thua lệ làng”. Do vậy, chúng ta cũng phải biết điều này cho thật rõ.
Tóm lại, hoằng pháp ngày nay, dù đi đâu trên quả đất này, chúng ta đều phải biết vận dụng ứng hợp thời duyên, tôn trọng Hiến pháp, luật pháp tại mỗi quốc độ cùng Hiến chương và Giáo luật Tăng già. Sự nghiệp hoằng pháp luôn gắn liền với lợi ích của Đạo pháp và Dân tộc.
2. Khế cơ: Hoằng pháp muốn đạt hiệu quả thì cũng không thể tách rời căn cơ trình độ của chúng sinh, của bá tánh cư gia đương thời. Nhân loại ngày nay đang đi vào thế kỷ 21, thế kỷ của văn minh, khoa học và tâm linh. Thế giới đang hướng tới hội nhập, toàn cầu hóa. Tri thức tổng thể, tri thức quốc gia, quốc độ địa phương, thành thị, nông thôn; thiếu niên-thanh niên-trung niên-lão niên; Thiền-Tịnh-Mật; Thiền-Tịnh song tu… (Đó là chưa kể các thành phần giai cấp, có tín ngưỡng, không tín ngưỡng…) đều cũng phải hết sức chú ý, quan tâm. Trong Thập trí lực, Đức Phật đã chỉ bày rất rõ:
- Tri thị xứ phi xứ Trí lực
- Tri tam thế nghiệp báo Trí lực
- Tri chư thiền giải thoát tam muội Trí lực
- Tri chúng sinh tâm tánh Trí lực
- Tri chủng chủng giải Trí lực
- Tri chủng chủng giới Trí lực
- Tri nhứt thiết sở đạo Trí lực
- Trí thiên nhãn vô ngại Trí lực
- Trí túc mạng vô lậu Trí lực
- Trí vĩnh đoạn tập khí Trí lực.
3. Khế lý: Khi đã biết rõ căn cơ trình độ chúng sinh của mỗi hội chúng rồi thì bước nối tiếp là chúng ta phải biết ứng dụng giáo lý Phật pháp phù hợp thực tế cuộc sống nhân sinh, của xã hội hiện hữu, đặc biệt là của hội chúng, đối tượng đang tiếp thụ nguồn giáo lý.
(Thí dụ: Có 3 loại ruộng: tốt, trung bình và xấu… nên gieo hạt ở đâu trước? Có 3 loại bình: loại bình tốt, không nứt rạn, không thấm nước; một bình nứt rạn; một bình thấm nước… nếu chứa nước nên chứa bình nào?)
- Người gia chủ, người làm ruộng, người đi buôn, người câu cá… Đức Phật tùy căn cơ mà ứng dụng giáo lý khế hợp căn cơ để giáo hóa.
IV- KẾT LUẬN: TÂM ĐỨC CÔNG HẠNH ĐẠO NGHIỆP HOẰNG PHÁP
1. Năm công đức của vị pháp sư:
Kinh Tăng Chi, tập II, chương 5, phẩm Diệu pháp, bài kinh Tôn giả Udayi, tr.611, có ghi lời dạy của Đức Phật nói về năm đức của vị pháp sư (Udayi) như sau:
“Này Ananda, thật không dễ gì thuyết pháp cho người khác. Để thuyết pháp cho người khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho người khác. Thế nào là năm?
Ta sẽ thuyết pháp theo tuần tự; ta sẽ thuyết pháp với mắt nhìn vào pháp môn; ta sẽ thuyết pháp với lòng từ mẫn; ta sẽ thuyết pháp không phải vì tài vật; ta sẽ thuyết pháp không làm tổn thương cho mình và người. Này Ananda, khi thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy”.
2. Năm lợi ích của người nghe pháp:
Kinh Tăng Chi, tập II, chương 5, phẩm Kimbila, bài kinh Nghe pháp, tr.708, Đức Phật dạy:
“Này các Tỳ kheo, nghe pháp có năm lợi ích. Thế nào là năm?
Được nghe điều chưa nghe
Làm cho trong sạch điều được nghe
Đoạn trừ nghi hoặc
Làm cho tri kiến chánh trực
Làm cho tâm tịnh tín”.
3. Hai hạng người hy hữu:
Kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ tát, Đức Phật dạy:
“Có hai hạng người hy hữu ví như đóa hoa Ưu đàm ngát hương. Thứ nhất là hạng người “biết thuyết pháp” và thứ hai là hạng người “biết nghe pháp”.
Thành tâm cầu nguyện chư tôn đức giảng sư Tăng Ni luôn được năm điều phước báu an vui trong Chánh pháp: - Sống lâu, sắc tốt, yên vui, sức mạnh và trí tuệ.

                                                                                             HT. Thích Giác Toàn


VẤN ĐỀ HOẰNG PHÁP ĐỐI VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC
                                                                              TT. Thích Bảo Nghiêm
 
Đến với Đức Thế Tôn, có thể nói, kể từ khi chứng thành đạo quả, bước chân hoằng hóa của Ngài đã rảo bước khắp muôn nơi. Ngài đã từng thuyết giảng từ nơi núi từng, đến xóm thôn; từ Tinh xá đến cung vua sang trọng v.v…

Thế nhưng, hầu như chúng ta ít thấy đề cập đến vấn đề Đức Phật thuyết giảng trong các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học v.v… Thế nhưng, nói thì vậy, bởi mỗi quốc độ mỗi khác, mỗi thời kỳ mỗi thay đổi. Quá trình thuyết pháp độ sanh của Ngài đã phổ cập khắp muôn nơi, đến với bất kỳ mọi tầng lớp trong xã hội đương thời. Đức Phật đã luôn vận dụng tinh thần Khế lý, khế cơ để chuyển chuyển hóa thân tâm, chuyển mê khai ngộ cho nhân loại.


Những người hoằng pháp chúng ta ngày nay, đi theo gót chân đức Phật, thì nhất thiết cũng phải dùng mọi phương tiện để có thể phổ cập giáo pháp đến khắp mọi nơi.
Tuy nhiên, chúng ta phải biết và thấy rằng con người thời đại nay đã trở nên tiến bộ và khác hơn xưa rất nhiều, nhờ sự tiến bộ về tư tưởng, triết học cũng như khoa học kỷ thuật và xã hội. Trong sự tiến bộ chung ấy, nhận thức về tôn giáo của con người cũng thay đổi theo chiều hướng tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải có bổn phận thúc đẩy sự tiến bộ của con người về nhận thức tôn giáo, cụ thể là về tinh thần giáo điển của Đức Như Lai. Có như vậy thì đạo Phật mới giữ được vai trò nuôi dưỡng và phát triển tâm linh của con người theo đúng con đường của chánh pháp Như Lai.
Đó chính là mối ưu tư lớn của những người hoằng pháp chúng ta ngày nay. Thế thì muốn thực hiện tốt phương châm ấy, thiết nghĩ, vấn đề đầu tiên là làm thế nào để giáo lý Đức Phật thực sự có ảnh hưởng đến nhận thức của giới trí thức, đặc biệt là giới sinh viên trẻ đang còn ngồi trên ghế học đường trong các trường đại học. Bởi giai đoạn đại học là giai đoạn rất quan trọng cho giới trẻ định hướng sự nghiệp đi vào đời, định hướng tương lai theo đúng khả năng và trình độ của mình.
Bên cạnh đó, về mặt tồn tại và phát triển của đất nước thì giới sinh viên trẻ chính là những người đang và sẽ gánh vác vận mệnh của đất nước, của thế giới trong hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, điểm quan trọng về giá trị Phật giáo mà nhà hoằng pháp chúng ta cần nắm vững là cho dù nhận thức của con người về tôn giáo có thay đổi ra sao, thì những nguyên lý của giáo lý đạo Phật cũng không bao giờ thay đổi. Bởi những nguyên lý ấy cũng chính là những nguyên lý thường hằng của vũ trụ vạn hữu. Pháp ấy dù đức phật có nói hay không nói nó vẫn luôn hiện hữu. Đức Phật với sự giác ngộ đã thấy được chân lý. Từ đó, Ngài vì lòng thương tưởng đến chúng sanh nên chỉ bày chân lý này, để thay đổi những nhận thức sai lầm của chúng sanh.
Con người chúng ta, sở dĩ cứ mãi bị khổ đau đè nặng lên kiếp người là bởi vì sự sai lầm trong nhận thức về cuộc đời, cho nên đã  làm cho chúng ta mãi sống trong đau khổ. Xã hội bị chi phối bởi sanh, trụ, dị, diệt; vũ trụ vạn hữu vốn thành, trụ, hoại, không. Thế nhưng, con người không nhận thấy điều ấy, cứ chấp chặt, bám víu vào sự thường hằng, rồi sinh tâm tham nhiễm, vướng mắc và bị trói buộc. Những nguyên lý hằng hữu ấy, trong kinh Pháp Hoa đã diễn tả rất rõ:
“Thị pháp trụ pháp vị

Thế gian tướng thường trú”
Nghĩa là Pháp trụ, pháp vị ấy luôn luôn thường trú trong các pháp thế gian. Những pháp như vô thường, vô ngã, vô tướng, duyên sinh, nhất thừa thật tướng, là những thuộc tính của pháp thế gian. Nếu chúng ta biết nhìn sâu vào trong lòng của sự vật với con mắt quán chiếu, với cái nhìn của tuệ giác, thì có thể thấy được sự thật của vấn đề này.
Kinh Kim Cương cũng trình bày: “Người nào thấy được tánh Không tướng của các tướng, tức là thấy được như lai.”
Nói như thế, để chứng minh cho chúng ta thấy một điều chắc thật rằng những nguyên lý Phật học không bao giờ thay đổi, cho dù mọi vật trên thế gian thường luôn thay đổi. Cho nên, vấn đề chính yếu là những sứ giả hoằng pháp phải làm sao để trình bày những giáo lý ấy cho phù hợp với nhận thức của con người hiện đại, cụ thể là giới sinh viên đại học, là giới tri thức trẻ đang trên đà định hình tri thức, nhận thức và hướng nghiệp tương lai.
Hoằng pháp với giới sinh viên đại học này, nhà hoằng pháp phải biết nắm bắt được hành trình của các ngành trong trường đại học. Nghĩa là ít nhất thì người hoằng pháp cũng phải biết quá trình và phương hướng học tập của sinh viên trong bốn năm đại học. Cụ thể là phải biết được những môn học nào mà các ngành phải học qua. Như ngành ngoại ngữ thì học những môn học nào, ngành triết học, ngành tâm lý học, ngành xã hội học, ngành kinh tế… học những môn học nào. Nắm bắt được hình thức và nội dung của những môn học đó, thì nhà hoằng pháp chúng ta có thể dễ dàng đưa ra những môn học cũng với những tên gọi đó, nhưng được rút ra từ lời dạy của Đức Phật từ trong kinh điển. Phật cũng dạy về tâm lý, cũng dạy về kinh tế, văn hóa, xã hội, triết học v.v… Làm thế nào để có thể kết hợp hài hòa giữa thế gian và Phật pháp, phải làm sao để các sinh viên có thể thấy được các môn học của đạo Phật cũng có thể bổ sung thêm kiến thức cho các môn học ở trường lớp, có thể nâng cao hơn tầm hiểu biết của sinh viên về các khả năng chuyên môn. Từ đó, dễ dàng ứng dụng vào thực tế với các công việc sinh viên phải làm khi ra trường.
Ngoài ra, nhà hoằng pháp cũng có thể thiết lập những hoạt động vui chơi, vui để học cho giới sinh viên, có thể giúp sinh viên vừa giải trí, vừa bổ sung kiến thức trong lớp học.
Song song đó, cần phải hướng dẫn cho sinh viên một lối sống có niềm tin và hướng thượng. Giúp cho họ thấy được tính nhân bản và tự chủ của chính họ mà không phải do ai áp đặt hay bắt buộc. Mọi việc trên đời đều để cho họ tự nhận thức của quyết định lấy. Đức tin là nền tảng của mọi sự thành công trong đời. Mất niềm tin có nghĩa là mất đi cả ý nghĩa sống. Sống có nghĩa là tin vào một cái gì đó để phấn đấu và tiếp tục sống. Sống chứ không phải chỉ là tồn tại. Nhưng niềm tin ấy sẽ hướng dẫn con người ta sống như thế nào, vô nghĩa hay đầy ý nghĩa, lương thiện hướng thượng hay tàn ác và xuống dốc.
Hơn thế nữa, khi trình bày những giáo lý như thế đối với sinh viên, chúng ta có thể sử dụng những phương tiện về tri thức khoa học để giải thích nhằm tạo ra niềm tin đúng đắn phù hợp với tri thức thời đại, nhưng cũng chú ý để đừng quá sa đà diễn giải mà thành ra chỉ tôn thêm vẻ hào nhoáng của khoa học kỹ thuật. Khoa học kỹ thuật luôn có sự hạn chế nhất định của nó, nó chỉ là tương đối. Trong sự trình bày đó, luôn phải để ý đến khía cạnh thực tế của đời sống. Đặc biệt nên ứng dụng tình thần “Văn dĩ tải đạo”. Nghĩa là có thể dùng những tác phẩm văn học, những áng thơ, những bài nhạc, ... để giúp cho người trẻ có nhiều cảm tình chân thành với đạo pháp. Với những bài giảng mang nhiều tính chất văn học, có thể tạo nhiều sức thu hút đối với người nghe hơn là những bài chỉ nói những giáo lý khô khan. Có thể dùng thơ để chuyển tải giáo lý và hát lên khi cần thay đổi không khí, giúp sinh viên thâm nhập giáo lý một cách dễ dàng, không còn thấy Phật pháp là cái gì khó nuốt mà là rất sống động và thực sự có niềm vui khi đi nghe pháp. 
Nói với người trẻ phải nói tới lý tưởng, tình yêu, sự nghiệp. Cho nên, chúng ta có thể nắm bắt điều này mà trình bày giáo lý về duyên sinh, vô ngã, vô thường trong thời đại này là cần thiết để người ta có thể hiểu được mối liên hệ giữa mình với thế giới chung quanh. Vạn vật đều sống trong mối tương quan tuỳ thuộc vào nhau. Không có một ai, một sự vật gì tồn tại độc lập. Hạnh phúc, khổ đau, tình yêu, lý tưởng đều nằm trong mối tương quan nhân duyên ấy. Trong giáo lý tương tức, cái này có tuỳ thuộc vào cái kia, hạnh phúc và khổ đau không phải là vấn đề của riêng ai, nó là vấn đề của toàn thể mọi người, luôn có sự liên hệ giữa mình với người khác, với cả những lá cây ngọn cỏ. Từ đó nói đến vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường xã hội, những vấn đề hết sức nóng bỏng của thời đại. 
Xây dựng một môi trường tốt, trong đó có mình đang sống. Cũng trong mối liên hệ, chúng ta nói đến các vấn đề đạo đức trong gia đình với cha mẹ, những người thân trong quan hệ huyết thống. Nói đến mối quan hệ trong học đường với thầy, bạn, nói đến mối quan hệ xã hội. Và nói đến mối quan hệ trong tôn giáo, là mối quan hệ trong quan hệ của gia đình tâm linh. Con người luôn có gốc rễ của mình trong nhiều mối quan hệ mà chúng ta có thể thấy rõ nhất là mối quan hệ trong gia đình huyết thống và gia đình tâm linh. Đạo phật đã đi vào trong lòng dân tộc, và đã làm cho dân tộc ta trở nên một dân tộc thuần từ văn minh, có thủy có chung, có nhân có hậu. Vì thế, giáo dục cho sinh viên học tập và tìm hiểu về lịch sử của dân tộc Việt Nam cũng như lịch sử của Phật giáo Việt Nam là để chuẩn bị cho họ đầy đủ tư lương để đi vào tương lai. Nếu mất gốc rễ của mình trong hai dòng sống đó, con người chẳng có cơ hội nào để sống cho lành mạnh được. Cần thiết cho giới trẻ là ý thức được mình trong cội nguồn của mình để từ đó tiếp nhận những sinh lực cho đời sống của mình.
Nhìn chung, “Tất cả thế gian pháp đều là Phật pháp”, sứ giả hoằng pháp chúng ta cần để ý đến tinh thần ấy để áp dụng trong công tác hoằng pháp của mình, thì sự nghiệp hoằng pháp hy vọng sẽ thành công tốt đẹp. Đạo Phật vẫn là chiếc đò cần thiết cho con người và trách nhiệm người lái đò khi đời sống con người còn nhiều khổ đau, thì trách nhiệm nặng nề vẫn có thể nói là phụ thuộc vào những sứ giả hoằng pháp hôm nay và mai sau.


SỨ GIẢ HOẰNG PHÁP VỚI TINH THẦN HIỂU VÀ THƯƠNG
                                                                                                    TT. Thích Tấn Đạt

 Trong cuộc sống, con người luôn sử dụng khối óc và con tim để tiếp xúc, giao lưu với nhau. Khối óc biểu hiện qua sự hiểu biết, con tim biểu hiện qua lòng thương yêu. Đó là hai mặt cuả cuộc sống cần phải có và cần phải hòa điệu. Có hiểu biết, giữa con người mới có sự quan hệ với nhau.

Có yêu thương con người mới có sự thông cảm và chấp nhận, đùm bọc nhau. Nếu vận dụng được hai khả năng hiểu và thương một cách chính xác, điều hoà, rộng rãi thì chắc chắn chúng ta sẽ có một đời sống hữu hiệu, thành công và hạnh phúc.


Làm người ai cũng có khuynh hướng tìm đến hạnh phúc, nhưng hầu như mọi người không tìm thấy hạnh phúc thật sự, vì giáp mặt với quá nhiều khổ đau. Những khổ đau này do đâu mà có? Theo đạo Phật, đã làm người thì không ai tránh khỏi khổ đau. Đó là một chân lý chắc thật không ai phủ nhận được, Phật giáo gọi là khổ đế. Nhưng khổ đau muốn nói ở đây chỉ là một phần nhỏ trong cái biển khổ luân hồi. Tức là những nổi khổ do thiếu hiểu biết và thương yêu gây ra.
Thực tế con người sống trong xã hội, có rất nhiều tương quan với kẻ khác. Nào là tương quan với cha mẹ, vợ chồng, anh em, bè bạn, xóm làng v.v… Thế nhưng có nhiều người chỉ biết có mình, chỉ lo vun đắp cho cá nhân mình, thậm chí có lúc lấn áp lên quyền lợi và sự an lành của kẻ khác. Như thế thì làm sao có hạnh phúc, chỉ biết có mình là sống vị kỷ, thiếu tình thương.

Vì thế, là người con Phật, đặc biệt là những Sứ giả Hoằng pháp luôn lấy việc hoằng hóa lợi sanh làm đầu, thì yếu tố Hiểu và Thương cũng phải đặt lên hàng đầu. Có hiểu, chúng ta mới có cái nhìn rộng rãi và thấy được sự thật cuả vấn đề, nhờ đó dễ hóa giải được những rắc rối, những mâu thuẩn của cuộc sống. Có lòng thương thì mới có thể cưu mang, giúp đỡ và tìm cách đem lại sự an lành cho chúng sanh.
Song chúng ta phải phân biệt tình thương vị kỷ, lòng thương vị tha và cuối cùng phải yêu thương như thế nào để có hạnh phúc thật sự.
HIỂU: Là nói về sự nhận thức, sự thấy biết, sự phân biệt phải trái, sự khẳng định hay phủ định... do học tập, do kinh nghiệm, do thành tựu Giới – Định – Tuệ mà có.
THƯƠNG: là lòng yêu thương. Chúng ta không thể quan niệm sống mà không có lòng thương, vì lòng thương là nhựa sống của cuộc đời. Nó biểu lộ qua ánh mắt, nụ cười, lòng mến mộ, lòng thương cảm, là nghĩa cử cứu khổ ban vui.
Nhìn vào thực tế cuộc sống từ xưa đến nay chúng ta thấy, những người làm nên việc lớn, hầu như chỉ sống cho kẻ khác. Các Ngài luôn lấy hạnh phúc của tha nhân làm hạnh phúc của mình. Các Ngài đau với niềm đau của kẻ khác, nhạy cảm về cái khổ của con người và luôn luôn tìm phương cứu khổ. Các Ngài có một đời sống tinh thần rất cao thượng, rất phong phú nhưng giản dị, bình thường, đạm bạc và xem nhẹ vật chất. Đó là một đời sống rất trí tuệ và đầy tình thương.
Theo tinh thần đạo Phật, Hiểu thuộc về Tuệ, Thương thuộc về Bi. Nói về sự hiểu biết, người xưa thường nói: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dả”. Nghĩa là biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, đó là biết vậy.
Tục ngữ Việt Nam cũng đã nói: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Đó là lời khuyên bảo về tính chất khiêm tốn, là cách thể hiện sự hiểu biết chân thật của mình, không có tính tự tôn hay tự ty. Tinh thần này, rất dễ tạo sự thông cảm và sẳn sàng học hỏi kẻ khác.
 Hơn nữa, trong cuộc sống, con người chúng ta sống là phải có sự tiếp xúc, có mối quan hệ qua lại với nhau. Cho nên, hiểu biết là một yêu cầu cần phải có, nhất là hiểu đúng và biết đúng. Nhưng làm thế nào để hiểu biết đúng? Không gì hơn là ta phải biết học hỏi thật nhiều những vấn đề trong cuộc sống. Song song đó phải biết tư duy những điều học được và ứng dụng trong đời sống hằng ngày.
Với đạo Phật chúng ta, Hiểu biết nếu chỉ hiểu trên kiến thức thông thường, không có sự quán sát, soi chiếu của tự tâm, của trí tuệ thì gọi là thế trí biện thông, là sự hiểu biết thế gian. Ngược lại, sự hiểu biết theo Đức Phật dạy là phải có sự trải nghiệm, tu tập trong chánh pháp, có sự quán chiếu, soi sáng của tự tâm. Như kinh Pháp Cú, Đức Phật đã dạy:
         "Tỳ kheo hiểu chánh pháp
             An vui trong chánh pháp
           Thực hành trong chánh pháp
           Giải thoát bằng chánh pháp
            Làm lợi lạc chúng sanh
                                    Ấy là hạnh Sa môn ".                      
Ngoài ra, sự hiểu biết gọi là Trí tuệ này phải đạt đến tâm tự tại, vô ngại, không bị mọi dục vọng thế gian cảm nhiễm, lôi cuốn theo thất tình, lục dục:
                              “Như đá tảng kiên cố,
Không gió nào lay động,
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không giao động.”
                                                PC. 81
Nói về yếu tố tình thương, nếu hiểu theo nghĩa thế gian, Thương là tấm lòng quan tâm, lo lắng đến người khác. Theo giáo lý đạo Phật, tình thương có thể phân thành hai loại: tình thương vị kỷ và tình thương vị tha. Thông thường tình yêu của con người thì mang tính vị kỷ, lòng thương của bậc Thánh thì đầy chất vị tha.
Lòng thương vị kỷ là thương mà còn chấp chặt vào đối tượng mình thương, đối tượng được thương phải là của riêng mình. Lòng thương vị tha là lòng yêu mến người khác và chỉ với một ước mong là làm sao cho đối tượng mình thương được an vui, hạnh phúc. Cao hơn một bước nữa, tình thương còn có khả năng làm cho người bớt khổ và ban rải sự an vui. Tình thương trải ra bao la, tự nhiên như mặt trời tỏa chiếu ánh sáng khắp nơi, không phân biệt một nơi nào. Tình thương đó gọi là Từ bi, là tình thương được hình thành từ Trí tuệ.          
Một người trải tâm hiểu và thương người, nhưng nếu hiểu và thương không đúng cách, thương không đúng chổ, hay hiểu mà không thương hoặc thương mà không hiểu thì cái hiểu, cái thương đó chưa thật sự là hiểu là thương. Đôi lúc có thể dẫn đến mâu thuẫn, khổ đau. Chính Đức Phật đã tuyên bố: “Kẻ nào tôn kính ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Thế gian cũng có câu: “Nhiệt tình mà ngu dốt thành ra phá hoại”.
Quả thật, đây là điểm thiết yếu mà hành giả hoằng pháp khi đi giáo hóa độ tha cần phải quan tâm hàng đầu. Bởi nếu hiểu không đúng cách, thương không đúng việc, thì sự giáo hóa sẽ không thành công, không được quần chúng hưởng ứng. Chẳng hạn như khi ta đến giáo hóa một gia đình nọ, ở đó họ chỉ chuyên làm nghề đánh bắt cá để sống. Ta thương cho họ phải sống với một cuộc sống khổ cực, hằng ngày lam lũ đánh bắt cá để nuôi thân. Nhưng thật ra, người sống ở vùng biển thì nghề đánh bắt cá là công việc chính yếu để nuôi thân. Nếu ta một mực y cứ theo lời Phật dạy giới thứ nhất là “không được sát sanh”, cho nên mọi người phải ngưng ngay nghề đánh cá. Nếu giáo hóa theo cách đó thì ta càng hại mọi người và không khéo lại hại cả bản thân mình.
Hơn thế nữa, thực tế cuộc sống chúng ta sẽ thấy. Ở trong xã hội, có người sống nặng về lý trí, có người sống thiên về tình cảm. Với người nặng về lý trí, họ thường cân nhắc, đắn đo thận trọng trong khi giải quyết vấn đề, đôi khi thiếu sự thông cảm và ít tạo điều kiện giúp đở kẻ khác, cho nên khó thu phục nhân tâm, hay nói cụ thể là ít nhận được nhiều cảm tình của quần chúng. Thế nhưng, đối với người sống thiên về lý trí thì công việc của họ thường có lợi cho tổ chức, cho tập thể vì luôn tuân thủ nguyên tắc của tổ chức. Trái lại, người sống thiên về tình cảm, thiếu trí tuệ thì tính tình khá dể dãi, nghe ai yêu cầu việc gì cũng thuận theo. Người lãnh đạo mà thiên về tình cảm thì rất có hại cho tổ chức, vì giềng mối, kỷ cương, nguyên tắc dễ bị phá vở. Lúc thì làm như thế này, lúc thì làm như thế khác, bất nhất, thiếu lập trường, không cứng rắn nên dễ bị kẻ khác lung lạc.
Như vậy, người sống thiên về lý trí hay nặng về tình cảm đều không hoàn chỉnh. Vì thế, người học Phật chúng ta phải thấu rõ hai vấn đề mà tạo sự quân bình giữa lý trí và tình cảm. Nghĩa là phải tinh tấn tu tập, thể nghiệm giáo lý để có được trí tuệ. Có trí tuệ, chúng ta mới thấu suốt sự vật, hiểu rỏ vấn đề, không bị kẻ xấu lung lạc. Có Từ bi, chúng ta mới mở rộng lòng thương đến kẻ khác. Tình thương là chất liệu cao quý có khả năng hàn gắn, chửa lành những vết thương tâm của đời sống con người. Có tình thương mới xóa bỏ hận thù, tạo mối quan hệ thiết thân, đem an vui, hạnh phúc cho xã hội.
Từ đây có thể thấy, Hiểu và Thương, hay trí tuệ và từ bi là hai chất liệu cần thiết cho cuộc sống. Chúng phải luôn đi song hành với nhau. Nếu hiểu mà không thương thì chỉ biết sống cho mình mà khắc khe với kẻ khác. Còn thương mà không hiểu là thứ tình thương lệch lạc. Cả hai truờng hợp đó đều đưa đến sự bất hạnh, khổ đau. Có hiểu có thương thật sự, đúng nghĩa mới có hành động thích đáng, đem lại lợi lạc cho mình và người.
Đối với hành giả hoằng pháp chúng ta, để xây dựng được tinh thần Hiểu và Thương đúng nghĩa, có thể mang lợi ích thiết thực cho nhân sinh xã hội, chúng ta cần phải thiết lập một mô hình cụ thể về Hiểu và Thương, theo đường hướng như sau:
1. Hiểu và Thương trong quan hệ gia đình:
Về mối quan hệ trong gia đình, người giảng sư phải biết hướng dẫn con người tạo mối quan hệ tốt giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em, giữa vợ chồng…
Với cha mẹ, có lẽ ai cũng hiểu, đã là cha mẹ thì ai cũng thương con, cũng muốn cho con mình nên người hữu dụng. Nên đã dốc hết khả năng đễ lo cho con. Thế nhưng, có đôi lúc không đạt được như ý muốn. Điều đó là do có thương mà chưa hiểu. Ví dụ có một món đồ chơi rớt dưới giường, bé yêu cầu mẹ lấy giùm cho nó. Nếu bậc làm cha mẹ nhận thấy con mình có đủ khả năng bò vào lấy, thì nên chỉ cách cho nó tự làm mà không nên quá cưng chiều, rồi làm thay. Đó là cách tập cho con có ý chí và tinh thần tự lập. Khi thấy con có quà bánh nhiều, nên bảo con đem cho ba, hay cho anh chị. Đó là dạy con cách phát triển lòng vị tha. Về lễ phép, phải rèn luyện cho trẻ ngay từ tấm bé. Lúc khách đến nhà, phải tập cho con biết cách vòng tay và cúi đầu chào v.v…
Về cuộc sống vợ chồng là sống với nhau cả đời, nên cần phải có sự hiểu biết đúng đắn thì mới mong có được cuộc sống hoà thuận. Tức là phải biết thông cảm và chia sẻ những điều sai trái, lỗi lầm cho nhau để cùng giúp nhau tiến bộ.
Ngoài ra giữa anh chị em và giữa chủ với tớ cũng cần có sự hiểu biết đúng và tình thương chân thật mới mong gia đình êm ấm.
2. Hiểu và Thương trong quan hệ xã hội:
Người giảng sư phải biết hướng dẫn người thiết lập mối quan hệ giữa Thầy và trò, mối quan hệ giữa bạn bè và xã hội một cách tốt đẹp.
Về mối quan hệ giữa thầy và trò, thì đầu tiên người thầy cần phải nắm bắt, hiểu được tâm tư và tình cảm của học trò, để hướng dẫn, chỉ dạy học trò mình đi đúng phương hướng. Còn bổn phận học trò thì phải biết tôn kính thầy, thương quý thầy. Phải hiểu và thấy được sự lao nhọc mà người thầy đã đổ ra, để rồi cố gắng học tập, trui luyện nhân cách và tri thức. Nếu mối quan quan hệ giữa thầy và trò được thiết lập tốt thì đó là tạo duyên tốt cho xã hội. Xã hội sẽ có những người con ngoan trò giỏi, sẽ có những con người tốt, góp phần cho việc tạo ra sự an bình, thịnh vượng cho đất nước.
Về mối quan hệ giữa bạn bè và xã hội cũng là nhân tố quan trọng trong cuộc sống, cần được vun bồi, cần được tôn trọng. Bởi làm người thì ai cũng cần có bạn bè, đó là yếu tố dẫn dắt ta đi lên trong cuộc sống. Cho nên giữa bạn bè phải hiểu nhau, thương nhau thì mới xây dựng được tình bạn lâu dài. Chính vì quan trọng như vậy, nên chư tổ đã từng nói: “Ăn cơm có canh tu hành có bạn” là vậy. Nhưng bạn ở đây phải là “bồ tát vi bạn lữ”.
Nhìn chung, với con người, chúng ta có hiểu đúng, hiểu một cách sâu sắc thì mới có tình thương chân thật, rộng lớn. Nghĩa là tình thương phải đặt trên căn bản của trí tuệ. Có như thế mới đưa đến an lạc và hạnh phúc thật sự. Nếu thương mà không hiểu thì không phải là tình thương chân thật. Là hành giả hoằng pháp, muốn thành tựu trên con đường hoằng hóa lợi sanh, thì điều không thể thiếu là phải có được một lòng thương thật lớn và một tầm nhìn thật sâu rộng. Dù giáo hóa dưới bất kỳ hình thức nào cũng phải đặt trên nền tảng của trí tuệ và từ bi, phải quân bình được tinh thần hiểu và thương. Hai yếu tố này như hai đôi cánh cho vị hoằng pháp chắp cánh bay cao, bay xa trên lộ trình Sứ giả Như Lai, duy trì mạng mạch chánh pháp, lợi lạc chúng hữu tình.              
 HOẰNG PHÁP NƠI VÙNG SÂU
               TT. Thích Duy Trấn
                                          
           Sắp đến ngày tốt nghiệp. Các vị giảng sư tương lai đến thăm tôi và có thỉnh ý mời viết bài để đăng kỷ yếu. Qua suy nghĩ, mình cũng nên viết vài dòng hầu răn nhắc lớp trẻ sau này nên làm những gì để giup cho bà con Phật tử ở nơi xa xôi được hiểu biết Phật pháp. 
           Các vị giảng sư trẻ này phải có bổn phận trách nhiệm đem ánh sáng Phật pháp cho nơi vùng sâu. Mong sao ánh sáng nhiệm mầu của Thế Tôn sẽ được tỏa sáng khắp mọi nơi, mọi xứ.
            Đường hướng giáo dục của Đức Thế Tôn là tùy theo điều kiện sống, điều kiện nhận thức và nhân duyên giải thóat của từng cá nhân mà giảng dạy pháp môn thích hợp. Theo nếp giáo dục ấy, chư Tăng Ni nói chung và các vị hoằng pháp nói riêng cũng tuỳ thời, tuỳ pháp, tuỳ cơ, tuỳ xứ mà có trách vụ, giảng dạy giáo lý làm cho sự nghiệp giáo dục của Thế Tôn ngày càng hưng thịnh, nhằm đem lại lợi ích, an lạc cho đời trên tinh thần “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”.
Các Phật tử ở nhiều nơi trong cả nước cũng hòa mình theo sự đổi mới của đất nước và sự hội nhập toàn cầu hóa, đồng thời chia sẽ với chư Tôn đức lãnh đạo những vất vả trong nhiều năm qua trên bước đường làm lợi lạc quần sanh. Song song việc làm đó các ngài đã để lại cả một kho tàng tri thức và nền móng vững chắc cho chúng ta kế thừa và phát triển.
Đời sống tu hành thanh tịnh, tinh cần của vị tỳ-kheo đã là một bài học và là niềm tin của các Phật tử có nhân duyên thân cận. Bằng sự giảng dạy, vị giảng sư chỉ rõ cho Phật tử thế nào là lòng tin chân chánh Và nên tin những gì? Lòng tin của Phật tử là đồng nghĩa với chánh kiến, muốn có được sự hiểu biết không lệch ra ngoài Thánh đạo. Với cái nhìn đổi mới trong giai đoạn đất nước đã và đang hội nhập toàn cầu hóa. Giai đoạn hiện nay, Ngành Hoằng pháp không thể tách rời xã hội từ nhận thức cho đến ứng dụng những thành tựu đó vào việc “hoằng pháp nơi vùng sâu”.
1. Những Thuận Lợi Và Khó Khăn.
Theo cao trào hội nhập, tinh thần của mỗi người dân luôn phấn khởi đón nhận niềm vui, sự phát triển phồn vinh giàu đẹp của đất nước chúng ta. Chính vì vậy nét đẹp của nền văn hóa giáo dục Phật giáo là món ăn tinh thần, là nguồn sống tâm linh không thể thiếu cho bất cứ một ai từ Thành thị cho đến thôn quê, trước ngưỡng cửa đời sống khoa học hiện đại tiến triển theo đời sống tâm linh là nguồn sáng tạo cho cuộc sống tương lai. Trên tinh thần đó điểm thuận lợi lớn nhất của chúng ta là sự đồng hành với cái nhìn phát triển của các vị trụ trì luôn hoan hỷ tạo mọi điều kiện khai mở đạo tràng, lớp giáo lý để đáp ứng tinh thần tu học tinh tấn cần cầu học giáo lý của hàng Phật tử tại gia vùng sâu vùng xa. Thứ hai là niềm vui phấn khởi của Phật tử được thi đua học giáo lý với các tỉnh thành bạn. Đây là cái nhìn đúng chánh kiến, tinh thần tu học đúng Thánh đạo mà chư Tôn đức đã và đang phát triển cho mãn giáo lý vùng sâu vùng xa. Điểm vui mừng lớn nhất là sự quan tâm của chính quyền địa phương, họ đã tạo mọi điều kiện để chư Tôn đức Giảng sư về sinh hoạt thuyết giảng mang lại niềm vui an lạc cho bản làng.
Bên cạnh đó, vì công việc Phật sự của các tỉnh thành thì quá nhiều, thành phần nhân sự giảng sư không đáp ứng được tinh thần tu học tại các đạo tràng, hay lớp giáo lý ở tận vùng sâu vùng xa của tỉnh nhà, có tỉnh thì nhân sự còn quá hạn chế về chuyên môn. Cho nên, rất cần sự quan tâm ủng hộ của Ban Hoằng pháp trung ương hỗ trợ cho các tỉnh thành, nhất là sự phát tâm ủng hộ nhiệt tình không kể gian lao không từ khó nhọc của chư Tôn đức Thành viên Giảng Sư đoàn, về tận vùng sâu vùng xa để triển khai giáo lý cho hàng Phật tử các tỉnh thành, theo tinh thần hội nhập, để phát triển nền văn hóa giáo dục Phật giáo. Bên cạnh đó, rất cần sự điều phối của Ban Hoằng pháp Trung ương về nhân sự cũng như phương tiện và khuyến tấn cho các Thành viên Giảng sư. Tạo sự liên kết và cầu nối với Thành viên Giảng sư của các tỉnh thành trong công tác hoằng pháp vùng sâu vùng xa.     
2. Xây Dựng Và Phát Triển Đạo Tràng Bát Quan Trai.
Sau khi Đức Phật thành đạo Ngài đã thành lập Tăng đoàn. Đức Phật đã hướng dẫn các vị tỳ kheo về thăm lại Vua Cha và Hoàng hậu, Thái tử cùng các quần thần… Nhân đó Đức Phật đã Từ Bi đem Phật pháp đến với họ. Đã gieo được hạt giống bồ đề chủng tử, từ đó các hồng thái tử kể cả mẹ kế của Đức Phật đã phát tâm xuất gia nhờ hưởng được hạt giống của bát quan trai. Phật pháp rất nhiệm mầu và được lan rộng khắp mọi nơi từ thành thị cho đến thôn quê. Phật pháp hưng thịnh trường tồn mỗi đạo tràng lên đến cả trăm, ngàn người.
Ngày nay, các đạo tràng bát quan trai, đạo tràng niệm Phật từ vùng sâu vùng xa, được Tăng Ni hướng dẫn tu tập đang phát triển tu tập rất đông. Nắm bắt được tinh thần đó, nhóm giảng sư vùng sâu vùng xa phát nguyện dấn thân đến các đạo tràng thuyết giảng và cùng với Phật tử tu tập, chia sẽ những gì Phật tử chưa thông. Đây là nguyên nhân chính mà các vị giảng sư phải kết họp với các vị trụ trì để khai mở các đạo tràng và thành tựu một cách mỹ mãn. Chánh pháp được truyền với niềm tin chánh kiến của Phật tử, ngày hôm nay các đạo tràng không còn mê tín dị đoan, tục đốt giấy tiền vàng mã, đốt nhà lầu nhà kho đã giảm rất nhiếu. Phật tử rất vui mừng không còn phụ thuộc vào xã hội cũ rít đầy chất liệu mê tính dị đoan. Chính vì vậy Giảng sư đoàn Trung ương là niềm tin, là đuốc tuệ là mạng sống tâm linh cho hàng triệu Phật tử.
3. Hoằng Pháp Kết Hợp Từ Thiện.
Chúng ta phải hấp thụ tinh thần giáo dục của các vị đi trước với ý thức qua việc từ thiện lồng vào chương trình hoằng pháp rất thành tựu. Có một lần được Ban Từ Thiện phân công đi phát quà tại huyện Triệu Phong – Quảng Trị, đến nơi Ban Từ Thiện Tỉnh Quảng Trị kết hợp với Chữ Thập Đỏ huyện ra đón tiếp và hướng dẫn đến niệm Phật Đường Triệu Trạch, trong lúc xuống hàng cứu trợ, Chính quyền địa phương đã gợi ý Đòan Giảng Sư nên để lại pháp âm gì cho bà con. Chúng tôi đã bày tỏ, chia sẻ với bà con nghèo nơi đây hơn 40 phút nói về luật nhân quả cho hơn 500 người nghe. Và pháp môn niệm Phật đã làm an tâm cho tất cả bà con tận vùng xa xôi nơi đất Quảng Trị trong thời gian chiến tranh, rất nhiều người qua đời một cách oan uổng. Khi được hướng dẫn tu tập để hồi hướng cho cc thn nhn qu cố của họ. Bà con Phật tử rất vui mừng niệm Phật để cầu nguyện cho người thân đã qua đời. Hoà Thượng trưởng ban của chúng ta là tấm gương sáng trên đường phục vụ và ban pháp âm Từ Bi vi diệu cho tất cả chúng ta noi theo và thừa hành.
4. Hoằng Pháp Trong Các Trung Tâm Cải Huấn.
Hoằng pháp với tâm niệm Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh. Chúng ta thiết nghĩ hoằng pháp giúp cho người vượt nghèo khó thì rất dễ và rất được sự đồng tình ủng hộ. Chính vì vậy, các em đang phạm phải sai lầm tệ nạn xã hội đang được giáo dục trong các trung tâm giáo dục lao động. Tâm hồn các em trống vắng và nhất là thiếu tình thương. Vì quan niệm chung của rất nhiều người xem, các em là người vứt đi bên lề đường của xã hội. Nếu chúng ta không mở rộng tâm Từ Vô Lượng cùng cộng tác với các cấp lãnh đạo chính quyền, để kịp thời uốn nắn và sửa chữa thì các em ít có cơ hội hướng thiện và hòa nhập với xã hội. Qua việc viếng thăm, sự đồng cảm chia sẻ, sự tận tình tận tình giúp đỡ, sinh hoạt thuyết giảng và phát quà. Tin chắc rằng các em sẽ đón nhận tình yêu thương và quay về với con đường chơn chánh. 
5. Kết Luận.
Hoằng pháp là nhiệm vụ thiêng liêng của người con Phật, hơn nữa chúng ta là một sứ giả của Như Lai mang lý tưởng đem chánh pháp ứng dụng vào cuộc đời. Chư Tăng mãi mãi là địa vị chúng Trung Tôn, là niềm tin, là nơi quy hướng của toàn thể Phật tử tại gia. Để tinh thần hoằng pháp hoà nhập vào đời sống trong sự hội nhập về kinh tế, văn hóa phát triển của cộng đồng. Ngõ hầu làm mới cho chính mình, để việc hoằng pháp ngày càng mang lại lợi ích thiết thực, đem lại niềm an lạc cho chư thiên và loài người. Mong sao chư vị Giảng sư có dịp được ngồi chung để ôn lại kinh nghiệm và chia sẻ với nhau trong tinh thần hòa hợp đoàn kết, phát huy lý tưởng lợi tha tô đẹp thêm ngôi nhà chánh pháp.
 
PHẬT HÓA GIA ĐÌNH
                                           TT.Thích Chơn Không 
 
Phật hóa gia đình là chương trình Phật sự trọng tâm của Trung ương Giáo hội, rất cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa quý vị giảng và trụ trì tại các tự viện, nhằm hướng dẫn khuyến khích Phật tử tại gia phát tâm nghiên cứu học tập và tích cực ứng dụng lời Phật dạy vào việc trau dồi đạo đức cá nhân, xây dựng gia đình hạnh phúc, góp phần chăm lo đời sống những người bất hạnh trong xã hội và giúp cho đất nước ngày càng văn minh tiến bộ.
Muốn đạt mục đích nêu trên, quý vị giảng sư trẻ chúng ta phải là người tiên phong dấn thân hành động, hướng đến các Phật tử trọng tuôỉ nói lên những lợi ích thiết thực, để họ hăng hái mạnh dạn đưa con, đưa cháu đến chùa quy y Tam bảo, làm người Phật tử chân chánh, hiểu biết và tin sâu đạo lý nhân quả, nghiệp báo, luân hồi.
Khuyến khích Phật tại gia, mỗi nhà nên lập một bàn thờ Phật trang nghiêm tại phòng khách, hoặc ở điện thờ riêng để sáng tối dâng hương lễ Phật tụng kinh cầu nguyện .
Mỗi tháng, các Phật tử trong gia đình nên thay nhau đến chùa Sám hối, Bố tát vào các ngày: 01, 14, 15, và 29 (hoặc 30 âm lịch).
Nếu có điều kiện, người Phật tử nên thường xuyên đến chùa lễ Phật tụng kinh, đăng ký học giáo lý, tham dự các khóa tu, các thời thuyết pháp và tham gia các công tác Phật sự, từ thiện xã hội.
Mong ước rằng quý vị Tân Giảng sư trong Khóa này sẽ là những nhân tố tích cực trong chương trình Phật hóa gia đình, giúp cho chương trình được thành tựu viên mãn.
 
 
KIM PHẬT 700 NĂM - ĐỜI ĐẠO MÃI TƯƠI HỒNG

Trúc Lâm Yên Tử, 26/11/ 2008
         
                                                         Trần Quê Hương
 
1-
          Kim Phật, Kim Phật
          Thắng duyên cao ngất
          Thân sắc long lanh
          Pháp trần nhẹ phất!
 
2-
          Một ngàn hai trăm năm tám (1258)
          Ta bà thị hiện Việt Nam
          Thời Trần
         - Thái Tông, Thánh Tông
         Nay nối
         - Danh hiệu Trần Khâm – Nhaân Toâng.
 
         Hai mươi năm, hữu tri thiên mạng
         Tam giáo thế học phân minh
         Phật học, Thiền học soi quán
         Hiện Quang, Thượng Sĩ …truyền kinh.
 
3-
         Vâng lệnh Phụ Hoàng lên Ngôi báu
         Hai mươi tuổi tròn đẹp nhân gian (1278)
         Hai mươi mốt cùng Quan quân binh tướng (1279)
         Chống giặc giữ nước quyết vì dân.
          
          Đã là Vua, do dân vì dân
          Thức ngủ, sáng chiều chẳng quản thân
           Chiến đấu mười năm… sinh tử lộ,
           Hai phen Vệ quốc … khổ muôn phần!
 
         Binh hùng, tướng mạnh giặc Nguyên Mông
         Hốt Tất Liệt, Thiết Mộc, Sài Thung
         Rồi Toa Đô, Thoát Hoan, A Lý…
         Thế giặc tràn sang như bão giông!!!
 
         Nội Bàng, Vạn Kiếp, đến Bình Than
         Thăng Long, Thiên Mạc, Đại Hoàng trong
         A lỗ, Phú Tân….đương đầu giặc,
         Sau lui Thanh Hóa kế binh phòng.
 
         Nước ta dù nhỏ, dân ta ít
         Nhưng chí anh hùng quyết chẳng thua!
          Trần Nhân Tông Vua, Hưng Đạo tướng
           Đoàn kết Quân Dân …sức mạnh thừa.
 
         Phản công A Lỗ, ta vùng lên
         Hàm Tử, Chương Dương về Thăng Long
          Vạn kiếp, Phù Ninh… truy đuỗi giặc,
           Khải Hoàn Ca - thâm tạ núi sông!
 
    4-
                  Mạnh lớn mà thua khó chịu yên,
                  Năm sau Hốt Tất Liệt gây phiền (1286)                    
                 A Lý Hải Nha, Ao Lỗ Xích
                     Ô Mã Nhi, Điệt Lý….ngang nhiên.
                 
                      Đưa đại binh sang đánh nước ta
                  Quyết tâm rửa nhục với sơn hà
                  Không ngờ thiên địa mênh mông ấy,,
                  Bình đẳng công tâm trước cỏ hoa.       
                 
                 “ Nam Quốc Sơn Hà – Nam Đế Cư…”
                  Lời thơ vang vọng cõi phù hư
                  Binh tướng Vua quan, dân Đại Việt,
                  Một lòng vì Tổ quốc thiên thu!    
                 
                  Giặc đến phải đành tìm cách ngăn
                  Llần nauy khai chiến trận Mộc Hoàng,
                  Giặc mạnh quân ta lui chiến thuật,
                  Lui dần nên bị mất Thăng Long!  
        
                  Giặc hừng chí hung hăng truy đuỗi
                  Nào ngờ trúng kế Trần Nhân Tông;
                  Trần Hưng Đạo chỉ huy mai phục …
                  Vạn Kiếp, Bạch Đằng…giặc bại phơi sông!
 
                  Mười bảy tháng ba năm Mậu Tý (1288)
                  Trrần Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng
                  Về Phú Long Hưng bái tiên đế
                  Trình báo công – Tám tướng giặc hàng:
        
                  Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp
                  Đường Ngột Đãi, Mai Thế Anh, Sầm Đoan
                    A Thai, Điền Nguyên soái… xin ân xá,
                     Giặc hồi hương… kết thúc cuộc xâm lăng!
                            
   5-
          Dân Đại Việt - Một nhà đoàn tụ
          Chấm dứt chiến tranh, xây dựng hòa bình
         Trần Nhân Tông, quân dân tận lực…
         Quôc thái an cư lạc nghiệp xương minh.
 
        
         “Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá
          Non sông nghìn thuở vững âu vàng”
          Lời thơ còn mãi trong nhân thế,
          Thỏa nguyện Vua tôi… Hạnh phúc tràn!
        
6-
     
         Thương dân nên phải quyết vì dân
          Độc lập hòa bình được mấy xuân
           Đại xá tội nhân và miễn giảm
           Thuế sưu, cho bá tánh hồng ân!
        
         Đồng thời, Vua cũng quyết tự thân
          Du hành trong khắp chốn thôn lân
          Thăm dân… cho biết dân tình ấy,
          Mấy độ gian truân, mấy nhọc nhằn !
 
         Và Ngài cũng khuyến hóa nhân dân
          Thập thiện hiền lương tu dưỡng thân
           Ngũ giới Tam quy ….lìa khổ não,
           Dị đoan mê tín - lánh xa lần.
 
         Mười năm lăn xả chống ngoại xâm
          Năm năm chung sức chuyển nhân tâm
           Ngai vàng hài cỏ xin buông xuống,
           Cửa Phật quay về - Đẹp bước chân!
 
7-
         Tháng ba năm Quý Tỵ ( 1293 )
          Ngôi báu nhường cho Con;
           Và cũng từ độ ấy,
           Lên làm Thái Thượng Hoàng
          
         Thái Thượng Hoàng - Sa môn
          Sa môn - Thái Thượng Hoàng
          Việc nước cùng việc đạo
          Thế đạo chuyển tâm hồn.
 
         Thái Thượng Hoàng – Cố vấn
           Giúp Vua – pháp an dân
           Dân an – Nước hưng thịnh
           Nước thịnh , đất mở mang.
 
                   Hai châu Ô – Lý… còn lưu dấu
                     Công đức Thượng Hoàng, nghiệp Đế vương
                      Công chúa Huyền Trân – vâng lệnh Phụ
                      Đem thân ngà ngọc đổi giang sơn.
        
                      Công đức Đạo - đời đời nhớ mãi
                      Thiền Tỳ Ni, Thiền Vô Ngôn Thông
                      Thiền Thảo đường…cùng chung hợp lại
                      Việt Nam một nhà – Thống nhất Thiền tông!
 
8-
                      Nay đất nước hòa bình, độc lập
                      Xây dựng thanh bình, tươirạng non sông
                      Núi Yền Tử, Chùa Hoa Yên vân tập
                       Tưởng niệm 700 năm…
                       + CÔNG HẠNH TỔ VẪN TƯƠI HỒNG!
 
 
 Tất cả chúng ta,
 Những người Con Phật,
 Những công dân của Tổ quốc Việt Nam
                      Xin hãy nhớ,
-         Và một lòng can đảm !
Gương sáng nhà Vua - Thiền sư Trần Nhân Tông
Hợp nhất,
-         Ý tưởng, lời nói gắn việc làm,
Nhân cách ấy,
-         ĐỜI ĐỜI BẤT DIỆT !
Nhân cách ấy
-         ĐỜI ĐỜI XANH BIẾC
Tỏa ngát hương thơm - thơm ngát muôn đời…
 
 
DÒNG LƯU NIỆM
             TT. Thích Nguyên Thiện

     Tôi nhớ mãi một buổi mùa thu, lần đầu tiên bước lên bục giảng, lòng thấy nao nao tràn đầy xúc cảm, một tình cảm thân thương, gần gũi ấm áp nghĩa tình của những pháp lữ cùng chung chí hướng.
      
Tôi có cảm giác bình an, một khoảng lặng của niềm vui và hạnh phúc trào dâng, vì được cùng với các thầy cô trau dồi và và chia sẻ những kinh nghiệm hoằng pháp trải nghiệm qua những thăng trầm của cuộc sống, tôi tin tưởng các thầy cô có đủ sức mạnh và niềm tin để biến ước mơ thành hiện thực, mở được cánh cửa tương, lai bước vào thế giới mới, thế giới của những thành công rực sáng. Chúng ta thắp sáng ngày mai, bằng chính hôm nay, với ý thức phục vụ nên con đường hoằng pháp là con đường của tình yêu. Bồ đề tâm là năng lượng của cuộc sống, nuôi dưỡng lý tưởng và hoài bão.


         
Quý thầy cô thân mến! Cuộc hội ngộ nào rồi cũng chia ly, nhưng này là cuộc chia ly không có nước mắt mà chỉ có nụ cười, nên tôi viết dòng lưu niệm cho cuộc chia ly màu hồng này, ghi lại dấu vết thời gian với những kỷ niệm vui buồn, để mai sau trên dòng đời xuôi ngược bể dâu không còn gặp lại nhau. Những dòng lưu niệm này gọi là một chút gì để nhớ trong biển nhớ mêng mông.
         
Quý thầy cô thân mến! Lá xanh đẹp nhưng lá vàng cũng đẹp! Giọt mưa buồn thì sợi nắng mới lung linh. Một trái tim mẫn cảm trong sâu lắng hay bồng bềnh theo từng cung bực của ký ức thời gian, rồi cũng tìm về giá trị vĩnh hằng của chính nó. Dẫu biết rằng đường đời muôn vạn lối, nhưng trái tim mẫn cảm ấy sẽ chọn nẻo vinh quang. Nhưng có một giây phút chạnh lòng xin hãy tìm về những kỷ niệm đã hao gầy theo bóng thời gian sau cuộc chia ly màu hồng. Đêm sẽ rực rỡ trên bước đường hoằng pháp lợi sanh. Dòng lưu niệm cũng xin thay lời muốn nói chúc mừng và chia sẻ niềm vui cùng quý thầy cô đã hoàn thành chương trình đào tạo Cao Cấp Giảng Sư của Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Chúc quý thầy cô gặp nhiều thắng duyên trên con đường thực hiện sứ mệnh thiêng liêng và cao cả.
 
 MƯỜI TIÊU CHUẨN CẦN CÓ
CỦA VỊ GIẢNG SƯ
                                                                   ĐĐ. Thích Đức Trường
Đức thế tôn từ khi thành lập giáo đoàn thanh tịnh giải thoát, Ngài không quan tâm đến vấn đề truyền pháp mà còn là vấn đề phạm hạnh của chúng Tỳ Kheo. Vì chỉ có quá trình của tự mình trải nghiệm quá trình tu tập trong phạm hạnh, thì vị ấy mới có khả năng đem đến cho mọi người sự phấn khởi và hoan hỷ.
Kinh trạm xe(Rathavivutasutta) thuộc Trung Bộ có đề cập, một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá) tại Venuvana (Trúc Lâm) Kalandakanivapa. Lúc ấy moat số đông Tỷ-Kheo người địa phương, sau khi an cư mùa mưa tại địa phương xong, liền đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ và ngồi xuống một bên.Thế Tôn nói với các Tỷ-Kheo đang ngồi một bên rằng ai có thể hội đủ mười tiêu chuẩn cần có của vị giảng sư, mà khi vị này giáo giới, khai thị, trình bày, khích lệ, làm cho các vị đồng phạm hạnh phấn khởi và hoan hỷ.
Tôn giả Punna Mantaniputta (Phú Lầu Na) là Tỷ-Kheo địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng moat địa phương tán thán.Về sau, tôn giả Phú Lầu Na được biết là vị thuyết pháp đệ nhất và Ngài hội đủ mười tiêu chuẩn cần có của vị giảng sư là:
Tự mình thiểu dục và giảng về thiểu dục, tức là hạnh muốn ít cho tự thân.
Tự mình tri túc và giảng về tri túc, tức hạnh biết đủ bằng lòng với những gì mình đang có.
Tự mình độc cư và giảng về độc cư, tức là sống một mình nơi vắng vẻ.
Tự mình không ô nhiễm và giảng về không ô nhiễm, tức không tụ tập uống, ăn, nghe, nhìn, nói chuyện.
Tự mình tinh cần, tinh tấn và giảng về tinh cần, tinh tấn, tức là nổ lực tự thân.
Tự mình thành tựu giới hạnh và giảng về thành tựu giới hạnh, tức là giữ giới thanh tịnh không khiếm khuyết.
Tự mình thành tựu thiền định và giảng về thành tựu thiền định, tức thành tựu Tứ Sắc Định và Tứ sắc Không.
Tự mình thành tựu trí tuệ và nói về thành tựu trí tuệ, tức thành tựu trí tuệ hữu học thấy rõ sự thật như thật cuả cá hiện hữu.
Tự mình thành tựu giải thoát và nói về thành tựu giải thoát, tức thành tựu tâm giải thoát dứt trừ các kiết sứ.
Tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và nói vế thành tựu giải thoát tri kiến, tức thành tựu trí tuệ thấy biết mình đã giái thoát.
Không chỉ là tiêu chuẩn cần có của vị giảng sư mà còn có khả năng giúp cho tự bản thân vị giảng sư thành tựu bảy pháp thanh tịnh trước khi chứng đắc vô thủ trước Niết Bàn. Bảy pháp thanh tịnh đó là:
1. Giới thanh tịnh
2. Tâm thanh tịnh
3. Kiến thanh tịnh
4. Đoan nghi thanh tịnh
5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh
6. Đạo tri kiền thanh tịnh
7. Tri kiến thanh tịnh
Vị giảng sư không những vạch ra lộ trình giải thoát truyền thống ba đời chư Phật, mà còn giúp cho vị đồng phạm hạnh và mọi hành giả tu tập cùng thành tựu đức hạnh thanh tịnh; nhiếp phục tâm cấu uế chứng đắc tứ thiên;thấy rõ sự thật duyên khởi trong quá trình tâm vật lý của các cảm thọ, tưởng hành và thức; đắc được trí biết rõ đạo và chướng đạo;thấy rõ quá trính thực hành và tu tập tam pháp ấn: khổ vô thường và vô ngã;và thành tựu thanh tịnh do thấy biết.
Khi được trực tiếp đàm luận cùng Tôn giả Punna Mantaniputta(Phú Lầu Na)Tôn giả Sariputta (Xá Lợi Phất) đã tán thán: “Thật hy hữu thay Hiền giả! Thật kỳ diệu thay. Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một: bởi một để tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Đạo Sư, và vị để tử ấy là Tôn giả Punna Mantaniputta.Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Punna Mantaniputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, để được thân cận, thì thật là hạnh phúc cho các vị ấy, thật là chơn hạnh phúc cho các vị ấy!Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta!”
Thật vậy, nếu một vị giảng sư thành tựu được mười tiêu chuẩn cần có này thì vị ấy sẽ như cỗ xe lớn đưa mình và người trở về quê hương chân lý và hạnh phúc của vo lượng kiếp tiềm kiếp 

                                       ĐÔI DÒNG VỚI TĂNG NI SINH 
                                   LỚP ĐÀO TẠO CAO CẤP GIẢNG SƯ
                                                                              ĐĐ. Thích Quang Thạnh

Tuổi trẻ là tuổi của mùa Xuân, là mùa của muôn hoa đua nở và khoe sắc dưới ánh bình minh của vầng hồng vừa ló dạng, là mùa của sự đâm chồi nãy lộc và sinh sôi nảy nở của hàng vạn sự sống đang đua nhau phát triển, và cũng là mùa chào đón cho sự khởi đầu tốt đẹp của nhân loại. 
           Vì vậy, khi đề cập đến tuổi trẻ, hình ảnh của mùa Xuân thường được dùng ẩn dụ để minh hoạ về những đặc tính đầy nhiệt huyết, mạnh mẽ, phát triển, năng động và sáng tạo của giới trẻ hiện nay. Để lưu lại những kỷ niệm tốt đẹp giữa tình Thầy trò dưới mái trường Cao Cấp Giảng Sư vào những trang kỷ yếu của Tăng Ni giảng sinh khoá IV trước khi ra trường, tôi có đôi dòng chia sẻ với qúy Tăng Ni sinh trước khi rời khỏi mái trường thân yêu sau ba năm miệt mài với đèn sách.
Thưa các huynh đệ!
Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua như dòng sông êm đềm xuôi chảy về quá khứ, thấm thoát đã ba năm trôi qua, những gương mặt thân thương và trìu mến ngày nào khi mới chập chững bước vào ngưỡng cửa Cao Cấp Giảng Sư, quý huynh đệ giờ đây đã trở thành những người tu sĩ trí thức với đầy đủ tài đức song toàn; đó là một thành quả vô cùng cao quý và đáng trân trọng. Sau khi tốt nghiệp ra trường, mang trên mình với trọng trách: truyền trì đạo mạch, tục diệm truyền đăng, xiển dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh, báo Phật ân đức;quý huynh đệ càng cố gắng nhiệt tâm hơn nữa khi tu học, tinh cần hơn nữa khi làm Phật sự và tỉnh giác hơn nữa khi hoà nhập cuộc đời; bởi vì đứng trước ngưỡng cửa của thiên niên kỷ mới, một niên kỷ đầy sự thách thức và canh tân, người tu sĩ cần phải khéo léo trong sự tu tập Giới-Định-Tuệ và thiện xảo trong phương tiện hoằng pháp, chúng ta không nên cố chấp và khắt khe cũng không nên quá buông thả và phóng túng trong khi tu học và hành đạo; đó chính là đôi chân vững chắc cho quý huynh đệ trước khi dấn thân vào con đường“hoằng truyền Phật pháp, lợi ích chúng sanh” hầu đóng góp cho sự phát triển xã hội, Phật giáo và Tăng đoàn trong hiện tại cũng như tương lai. Quan điểm này chúng ta sẽ thấy rõ hơn qua lời nhận định rất thuyết phục và năng động của thiền sư  D.T. Suzuki  rằng:
Trong những ngày nay, chùa chiền Phật giáo là những trường học, bệnh viện, phòng khám bệnh, trại mồ côi, nơi nương tựa của những người già; và những vị tu sĩ là những vị giáo viên, y tá, bác sĩ, kỹ sư, người quản lý nhà trọ miễn phí, những người trồng trọt, những nhà thám hiểm ở vùng hoang dã… Khi cộng đồng đang trong giai đoạn tiến triển ban sơ, những người đệ tử Phật là những nhà lãnh đạo trong mỗi chiều hướng, và chính quyền tự nhiên khuyến khích về hoạt động của họ.
Thêm vào đó, Ngài Ajahn Tiradhammo Thera đã tô điểm thêm một đoạn phát biểu rất lập luận trong lời nói đầu của ngài:
Một người đệ tử Phật, đối với tôi không chỉ là người nào đó đơn thuần nằm lòng những thể thức đúng đắn hoặc phải mặc đồng phục cần phải có, mà còn là người sống một đời sống hành thiện trên tinh thần đúng với lẽ phải. Đây là toàn bộ mục đích tối thượng về lời dạy của đức Phật. Một nhà hoạt động xã hội khi ấy là người luôn sống với trí tuệ và lòng từ trong khung cảnh xã hội; học tập để chia sẻ kho tàng tâm linh vị tha với tất cả chúng sanh.
Hy vọng rằng: hai quan điểm trên sẽ giúp quý huynh đệ khẳng định cho chính mình một hướng đi chuẩn mực với vai trò tích cực và khéo léo của người tu sĩ Phật giáo ngày nay trên lộ trình tu học và hoằng truyền Phật pháp. Nhân dịp chào đón Xuân Kỷ Sửu 2009 và chuẩn bị cho buổi Lễ Tốt Nghiệp Khoá IV sắp tới, tôi thân chúc quý huynh đệ luôn khoẻ mạnh, vui vẻ và thành tựu mọi sở nguyện trên con đường tu học giải thoát giác ngộ.  
 
 BA SỰ KIỆN QUAN TRỌNG MỘT CUỘC ĐỜI
HT. Thích Thanh Sơn 
1. Sinh ra lớn lên phải ý thức lắng nghe cố gắng tạo cho mình một cuộc đời, tìm cách học hành sao có lợi cho mình và giúp được mọi người. Người xưa nói: Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh.
2. Nhiệt tình trong các sinh hoạt, thân thiện với mọi người, vừa làm, vừa học, học mãi. Biết lắng nghe và biết chắc lọc tinh túy mọi sự việc, làm lợi mình và lợi người, lợi cho tập thể càng hay.
3. Luôn luôn cần mẫn mọi công việc, dù công việc ấy chưa đem lợi ích gì mà tương lai xán lạng cho mình và mọi người dù cực cũng phải cố gắng.
Tâm đắc lời thánh huấn ( HT. Khánh Hòa):
- Chư Tăng ( không tiến bộ, không lắng nghe, không học ) học mà không tập; học cho có, thật là lãng phí. Muốn tiến theo đà tiến của xã hội, học mà không thực hành, không tích cực không lắng nghe không tiếp cận, thật lãng phí cơm của đàn việt.
Theo đà văn minh tiến bộ ngoài phạm vi Phật Pháp sẽ trở thành thế gian pháp mất. Trí thức phải học thêm Ngũ minh (Nội minh, Ngữ minh, Y phương minh, Công xảo minh, Pháp minh).
Người xưa nói: Người Nhân là người làm sao cho người khác thương được mình, còn Trí là người làm sao cho người khác hiểu được mình.
 
Nghiệp Giảng sư
          Sa môn Thích Thanh Hùng
 
Cái nghiệp Giảng sư chỉ thế thôi
Một câu kinh Phật giảng không rồi
         Người nghe tôi giảng khen hay quá
        Tự nghĩ riêng tôi dốt nhất đời
                  
               

 
 Hoằng pháp
                                     
                                             Giáo môn Hoằng pháp vậy mà thôi
                                            Đạo đạt quyền chân những tưởng rồi
                                           Bóng bút thâm tình nâng thế hệ
                                           Hình nghiên ân nghĩa đỡ chân đôi
                                          Trao tâm kích khởi lòng thương đến
                                         Truyền trí quật cường dạ vững ngôi
                                         Lớp lớp chung tay bồi đức lớn
                                        Sử vàng ghi đậm nét tinh khôi
 
 PHẦN 2: MÁI TRƯỜNG LƯU DẤU
  Vòng Tay Thân Ái
                Thích Phước Trí
 
Thân gửi quý huynh đệ thân hữu, bạn hữu xa gần kính mến!Có câu:         
“Bạn bè là nghĩa tương thân

Khó khăn thuận lợi ân cần có nhau
Bạn bè là nghĩa trước sau
Tuổi thơ cho đến bạc đầu không phai.”
Thật là một sự hiện hữu vô cùng quý giá, khi chúng ta hữu duyên tương ngộ nơi giảng đường của Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư hơn hai năm qua. Song thời gian không cho phép chúng ta ngồi mãi bên nhau, chỉ còn vài tháng nữa là huynh đệ chúng ta phải chia tay, dấn thân khắp mọi miền đất nước để thực hiện sứ mệnh Như Lai Sứ giả.
Trong ý hướng hòa nhập với bối cảnh và trào lưu chung của xã hội, để khơi dậy tình thân ái, đoàn kết thương yêu, đồng thời bảo lưu những giá trị sâu sắc của một hiện tại đang trôi dần vào dĩ vãng, hiện tại đáng nhớ, đáng trân trọng, cũng như tương lai cần tô đắp vun bồi. Thể theo yêu cầu của đa số huynh đệ, tập thể Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư Khoá IV 2006-2008 muốn thành lập câu lạc bộ Hoằng pháp “Vòng Tay Thân Ái” để tương trợ Phật sự, mong thắt chặt tình cảm huynh đệ chan hòa như nước với sữa, gợi nhớ một thời đã thở chung bầu không khí dưới mái trường Hòa Khánh thân thương, đồng thời cũng là dịp cùng nhau ngồi lại “Ôn cố, tri tân”, hâm nóng lại tình huynh đệ đồng học.
Dĩ vãng bao giờ cũng đẹp, đáng nhớ và đáng trân trọng. Nó sẽ cho ta những hoài niệm bâng khuâng, chợt nhớ, chợt thương, những buồn vui tiếc nuối của năm tháng học đường. Rồi một thời cùng ngồi chung lớp sẽ lặng lẽ qua đi, không níu kéo được bao giờ.
Không bao lâu nữa, mỗi chúng ta sẽ rẽ sang một hướng mới, tùy theo khả năng, trình độ, hoàn cảnh mà hành đạo, sinh hoạt tu tập. Như thế, nẻo đời muôn vạn lối đang mở ra trước mắt chúng ta với những thách thức của con người, của thời đại. Trong tất cả chúng ta, mỗi người tự chọn cho mình một hướng đi, nhưng cùng chung tâm nguyện hiến dâng đời mình cho niềm an lạc của chúng hữu tình, theo hoài bão: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bản hoài.”
Hoằng pháp là một bộ phận quan trọng của người đệ tử Phật. Hoằng pháp là đem đạo lý đến cho mọi người, giúp mọi người hiểu được Phật pháp mà ứng dụng tu tập, ngõ hầu thay đổi tâm tánh cho được tốt hơn, sống vị tha nhân ái hơn và khẳng định được lý tưởng giác ngộ giải thoát xác quyết hơn. Hoằng pháp có thể bao gồm nhiều phương diện; nào là bằng một tấm gương sống gương mẫu thánh thiện, hoặc là những lúc gặp gỡ chuyện trò đàm đạo. Hay là những buổi thuyết giảng hoành tráng. Cũng có thể dùng cách giới thiệu những tác phẩm đạo lý hay, tổ chức môi trường học cho nhiều người…
Quý huynh đệ thân mến.
Ngạn ngữ có câu:“Tứ đại giai huynh đệ”.
Hay:
           “Mỗi người mỗi nước mỗi non
Khi vào cửa Phật như con một nhà”.
Thế nên, chúng ta là những người cùng chí hướng, cùng học tập chung một lớp, thì hãy nhất tâm, đồng lòng cùng nhau lập chí: “Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật”, chuẩn bị đầy đủ hành trang để nhập thế, lợi lạc chúng sanh.
Vì lẽ đó, trước khi tốt nghiệp ra trường, chia tay mỗi người mỗi hướng, chúng tôi mong muốn thành lập câu lạc bộ Hoằng pháp “Vòng Tay Thân Ái” hay là “Hội cựu Tăng Ni Sinh Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư Khoá IV”, để làm nhiệm vụ liên kết, xiết chặt giây thân ái, hầu chia sẽ những lo lắng, buồn vui hay những kinh nghiệm cho nhau trong cuộc sống.
“Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Giữa dòng đời bão tố và đầy gió bụi, chúng ta sẽ cảm thấy ấm cúng và êm đềm thân thương hơn khi bên cạnh mình có nhiều bạn đồng hành, biết hiểu và thương, chia sẻ và cùng trợ lực cho ta vượt qua gian khó. Lúc đó chúng ta sẽ cảm thấy mình hạnh phúc và lớn lên một cách diệu kỳ với những món ăn tinh thần đầy hương vị giải thoát.
Chúng tôi thiết nghĩ, thành lập hội cựu Tăng Ni Sinh Lớp Đào Tạo Cao Cấp Giảng Sư Khoá IV hay câu lạc bộ Hoằng pháp “Vòng Tay Thân Ái” đều nhằm mục đích tạo cơ hội để huynh đệ pháp lữ chúng ta có dịp gần gũi, tương trợ Phật sự với nhau.
Là con Phật cùng chung dòng họ Thích thì đều như anh em một nhà, nên chúng ta phải sống đoàn kết, hòa thuận từ ý chí đến tinh thần, để cùng nhau làm nên việc lớn, theo phương châm của Cố Đại Lão Hòa thượng Thượng Thiện hạ Hoa:
“Nơi nào chúng sanh cần ta đến, Phật pháp cần ta đi, chẳng quản gian lao, không từ khó nhọc”
Dù ở thời đại nào, trên bất cứ lãnh vực nào, nếu chúng ta biết sống yêu thương, đoàn kết, thì sẽ tạo được sức mạnh vĩ đại, đưa đến thành công trong mọi lãnh vực sinh hoạt Phật sự cũng như trong cuộc đời hành đạo của mỗi người.
 
Bức Tâm Thư Gửi Bạn
                        Thích Minh Hồng
   Sắp hết kỳ thi mãn khoá rồi
Đôi dòng lưu bút gửi lại đời
Ba năm chung học tình lưu luyến
Thương ghét vui buồn thắm đượm lời.
 
Bạn ơi phút đến sẽ chia ly
Bao ngày rèn luyện kỹ năng chi
Ngữ ngôn thiện xảo vô ngại thuyết
Nội điển nghiên tầm đủ trí bi.
 
Hạnh giải tương xưng đời mô phạm
Tài đức trau dồi phải gắng ghi
Ôn tầm tu tập song hành pháp
Sự lý dung thông tỏ huyền vi
 
Tánh tướng tịnh thanh đời giải thoát
Luận bàn sáng tỏ giải chấp nghi
Làm tròn hạnh nguyện Như Lai sứ
Thắp sáng đèn từ, xoá tối si.
 
Đem đạo vào đời, đa phương tiện
Chèo thuyền bát nhã độ mê nhân
Nghịch duyên đừng thối bước chân
Con đường hóa Đạo phải lần gian nan
 
Gian nan thử thách tinh thần
Phương tiện “Tứ Nhiếp” phải cần đem ra
Định tâm tuệ giác sáng loà
Huệ kiến Cắt đứt ái ma phược triền
 
Lục độ hạnh nguyện cần chuyên
Ba La Mật Pháp bến bờ giác tha
Từ bi cứu độ mọi nhà
Lửa giữ rụi tắt Cam Lồ Ma Ha
 
Cành dương nước tịnh rưới ra
Tam độc hại, tam muội da dứt trừ
Đôi lời gửi đến bạn vàng
Hoằng dương tỏ rạng mới an lòng này
 
Thân tâm thanh tịnh mới hay
Ngôn lành tương hiệp, chí đầy chẳng vơi
Trọn đời Đạo hạnh sáng ngời:
            Từ bi, nhẫn nhục, tâm thời vắng không”
 
Xin chào huynh đệ đồng song
Bồ Tát bạn lữ tâm đồng nguyện trao.
 

KỶ NIỆM HÔM NÀO
                            
Thích Minh Tâm
Các bạn có biết chăng:
“Mây bốn phương trời ghé lại đây
Cùng nhau tương hội buổi sum vầy
Mai này mỗi người đi mỗi ngã
Có nhớ nhung gì hỡi gió mây”.
Thời gian lặng lẽ âm thầm qua nhanh như cánh chim ẩn hiện trên bầu trời xanh, có còn chăng bóng dáng thấp thoáng bên hiên trường, còn không dư âm một thuở “bình yên” trong lòng. Đâu đây dáng giọng của thầy, kia pháp lữ miệt mài kinh sử. Lòng bồi hồi trong lúc chia xa, tiếc nuối tháng ngày đèn sách. Mai này mỗi hướng như cánh chim bằng lướt gió tận ngàn phương, biết có nhớ thương trường cũ hay ấp ủ nỗi niềm riêng?
Rồi thời gian, không gian qua đi như ánh hoàng hôn tan trong đêm sương lạnh, như cánh nhạn bay về nơi viễn xứ tha hương. Ôi! Nhìn cảnh vô thường tan thương biến đổi ấy, nhớ lời giáo huấn của Chư Tôn Đức giáo thọ mà thổn thức một tâm tình.
Hồng trần nhẹ gót chơi ba cõi
Mỗi niệm tuỳ duyên độ chúng sanh.
Hành trang ta mang đi suốt cả hành trình, biết ai còn nhớ đến những pháp âm vang dội từ kim khẩu của Đức Thế Tôn còn đọng lại hôm nay, như bừng sáng dậy một khung trời tươi sáng, ngày nay vang vọng sóng bủa triều âm, mặt đối mặt sống vui đời tỉnh thức.
Nhớ những pháp âm vi diệu từ ái bao dung của Chư Tôn Đức giáo thọ đã miệt mài vì thế hệ Tăng Ni trẻ với tâm nguyện là “sứ giả của Như Lai” Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh.
Nguyện như một ánh sao trời
Đêm đêm lấp lánh cho đời ngát hương.

Chúng con thật vô cùng hạnh phúc được tắm mình trong nguồn pháp lạc vô biên của Đức Từ Phụ và lớn lên bằng sự dìu dắt, thương yêu vô tận của quý Ngài. Ân huệ ấy, tình thương ấy làm sao chúng con không chạnh lòng lưu luyến. Hãy lắng nghe tiếng lòng muôn thuở trong mỗi chúng ta vọng về êm ái như dòng suối mát. Thương biết mấy những tâm tình pháp lữ cùng sát cánh bên nhau xây dựng ngôi nhà Phật pháp.
Vọng
            Thích nữ Nguyên Hương
Bầu trời cuồn cuộn mây trôi
Thế gian bao nẻo sống luân hồi
Nào danh nào vọng nào vật chất
Lôi cuốn con người mãi không thôi
Cho dù nỗi trôi theo thế sự
Cũng do chữ vọng ấy người ơi.
 

 
ƠN THẦY
                        Thích Nữ Tịnh Minh
Thầy ơi năm tháng dù qua
Công ơn thầy vẫn đậm đà trong con
Thầy như viên phấn hao mòn
Khuyết thân mình để cho con sáng lòng
Chuyến đò thầy chở qua sông
Đâu mong con phải nhớ công ơn người
Con đi suốt cả cuộc đời
Ngẩng đầu vẫn thấy dáng Người lung linh
 
 LỜI TRI ÂN
 Thích Nữ Quảng Thận
Thấm thoắt mà đã sắp mãn khóa năm học của lớp Cao Cấp Giảng Sư. Hồi tưởng lại những ngày mới nhập học, với tuổi 30 con mới được cắp sách đến trường. Hòa mình vào cuộc sống của Tăng Ni sinh, mơ ước chừng như khó có thể thực hiện được.
 Khi còn là một Ni chúng mới xuất gia vào chùa tu học, nghe câu nói của các vị Tôn Đức “Thượng cầu Phật Đạo, Hạ hóa chúng sanh”. Con cảm thấy khó có thể thực hiện được hoài bảo cao quý ấy. Thế nhưng, qua thời gian học tại lớp giảng sư, được chư tôn đức giáo thọ sư tận tình chỉ dạy. Vì sự nghệp của Phật pháp, các Ngài đã không quản gian lao, truyền trao cho chúng những tinh hoa giáo pháp, những kinh nghiệm hoằng pháp tuyệt vời. Giúp chúng con thấu hiểu và biết được trách nhiệm mình phải làm gì với tinh thần “Thượng cầu Phật Đạo, Hạ hóa chúng sanh” ấy.
Nói bao nhiêu cũng không kể hết, viết bao nhiêu cũng không đủ diễn tả được công đức của Quý Ngài, đã tận chỉ dạy giáo huấn cho chúng con. Những ngày tháng sắp kết thúc khoá học, sao thấy se lòng khi chúng con không còn có giây phút lắng nghe lời giáo huấn của quý Ngài.
Người ta thường nói “tre tàn măng mọc”, nhưng con nghĩ rằng có được những búp măng tốt, là nhờ tất cả sự hy sinh bao tinh tuý của thân tre già. Là người con Phật, tri ân là phải báo ân. Chúng con ngồi trên ghế nhà trường suốt mấy năm rồi, hôm nay sắp phải ra trường. Thiếtn nghĩ, để đền đáp phần nào công ơn cao dày của chư tôn đức Ban hoằng pháp, chúng con phải mang tâm huyết là sống lợi lạc cho người, làm cho ngôi nhà chánh pháp ngày càng rực sáng trong trần gian. Lời di huấn của quý Ngài: “Hoằng Pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” chúng con mãi hằng ghi dạ:
“Nguyện cầu Phật pháp lưu trường mãi
Vẫn nở muôn đời những cánh hoa”
Bài Học Nhân Duyên
                                                  Thích nữ Thánh Tuệ
                                                 Kính dâng thầy TT giám khảo Thích Nguyên Thiện
 
Ngày thứ sáu đến phiên Thầy giám khảo
Chúng con mừng lẽ thâm áo được nêu
Thầy thường khuyên lớp Cao Cấp Giảng Sư
Ta hãy lớn, chứ không vì điểm số
Thẳng mực tàu thì đau lòng gỗ
Lời thật ngay ắt sẽ trái tai
Thầy ước mong những “Pháp hữu” của Ngài
Người thừa kế Như Lai Chánh Pháp
Mang cho khắp nhân sinh nguồn an lạc
Trên pháp tòa phải quảng bác, uyên thâm
Ngài đắn đo, bởi trách nhiệm là tâm
Lớp Cao Cấp Giảng Sư - “mầm” thừa kế
Vì lẽ ấy tiếng Thầy mang “không dễ”.
Nhưng không ai thay thế tựa như Thầy
Tuy ưu tư có lắng đọng phút giây
Rốt lại cũng với Thầy niềm hoan hỷ
Vẫn nhiệt tâm, thâm tình dạy chỉ
Bài giảng này phải gắng đào sâu
Phong cách này nên phát triển thêm
Nào tư thế đứng, đi, cầm mic nói
Và nhiều lắm… còn văn chương, giáo lý…
Nhưng bỗng đến một phút giây hôm ấy
Thầy chúng con lâm bệnh cơ tim
Học trò đâu ngỡ, cứ kiếm tìm
Xin đăng ký tập giảng ngày thứ sáu
Hay tin ấy lòng như cây qua bão
Buồn thì không nhưng trộn xáo cả tâm tư
Thẩm thấu vô thường, mà chưa vẹn chữ sống Như
Trí nhớ mãi câu thơ Thầy từng đọc
Lúc ấy, lớp cười vang còn trong óc
Quá khứ xa xôi như thực, như mơ
Cứ in hoài sâu thẩm một đôi thơ
Trong tâm thức lời thơ như mãi mới
Càng thấm thía bài học Nhân Duyên hỡi
Tận nghìn xưa, mà nay cũng chẳng ngờ
“Có khi trễ hẹn một giờ
Lần sau muốn gặp, phải chờ trăm năm”.

 
NHỮNG BƯỚC KINH HÀNH
                                                        An Nguyện
 
Bỗng trầm nhịp mõ đêm thanh
Kinh thinh Phật hiệu Hồng Danh niệm trì
Nhẹ nhàng mỗi bước chân đi
Sen vàng hé mở từ bi môi cười
Huỳnh Y rạng rỡ thắm tươi
Khung trời giải thoát sáng ngời hào quang
Đi trong ba cõi… thời gian
Ngẩn ngơ cát bụi vô bàn chân không
Ngoài kia trời đã rạng đông
Bát phong tĩnh lặng chơn tâm hiện tiền
Ngày mai bến thức bình yên
Bước chân thoát tục dạo miền nhân gian.

        Thích Nữ Thu Liên
Nếu muốn mà được thì đời không là bể khổ, nếu hợp không tan thì trần gian đã là nước Nhược non Bồng. Khóa học rồi đến lúc phải kết thúc, dù chúng con có ao ước được học dưới mái chùa Hòa Khánh thân yêu- nơi đây chúng con đã được Chư Tôn Thiền Đức tận tâm truyền trao pháp bảo vô giá để tiếp tục lộ trình vạn dặm trở về cố hương.
Khi hơi thở con ra vào, nhịp tim còn lên xuống trong lòng mỗi tăng ni sinh lớp đào tạo cao cấp giảng sư khóa IV thì khi ấy vẫn còn biết bao điều để nhớ- để thương và nhất là để cảm.
Tình thầy, tình bạn còn mãi, để sưởi ấm lòng ta trong những đêm đông giá lạnh và giúp ta sức mạnh vượt qua bao giông tố nghiệt ngã của vọng thức điên đảo, cũng như thoát khỏi lụy phiền vương vấn của hồng trần huyễn mộng.
Mới đây, mà đã ba mùa lá rụng bên thềm Hòa Khánh cứ tưởng chừng như mới chớp mắt xanh thẳm ngày đầu nhập học, tuy ra trường mỗi người về trụ xứ khác nhau, để thực hiện tâm nguyện sống là cho đi, không chỉ an hưởng hạnh phúc cho riêng mình. “Những ân tình trong lớp giảng sư vẫn còn vương mãi, để một mai gặp lại ta vẫn mỉm cười. Nghĩ lại ngày xưa, thế mà nhanh thật…”
NGHĨ VỀ HOÀ KHÁNH
                               Quảng Nghị
Cảnh chùa Hoà Khánh đẹp tuyệt vời
Thanh tịnh trang nghiêm đến mọi nơi
Tan học thảnh thơi trong dạo bước
Hoà Khánh lưu danh mãi muôn đời
 
Bao bậc tiền bối đã dày công
Gieo hạt ươm mầm mãi vun trồng
Mong được tiền đồ ngày rạng rỡ
Vui cùng đất nước với non sông
 
Đàn Việt chung sức gắng dựng nên
Góp chút công lao nguyện đáp đền
Trọng báo tứ ân hành Bồ Tát
Cầu cho Phật pháp mãi trường tồn
 
XA RỒI VẪN NHỚ
                                       Thích Minh Thể
 
Hòa Khánh sừng sững khắc sâu
Vào kỳ thi tuyển sinh lo âu đợi chờ
Đến nay vẫn tưởng là mơ
Lưu tên trúng tuyển sang bờ bình yên
Giảng sư cao cấp là miền
Con về học đọa thánh hiền lợi tha
Dấn thân hoằng pháp gần xa
Cùng bao pháp lữ tỏ ra nhiệt tình
Giảng đường Hòa Khánh đẹp xinh
Năm dài lưu dấu bóng hình Tăng Ni
Chư tôn Giáo thọ Từ bi
Trao truyền kinh nghiệm phát huy đạo mầu
Vững vàng bay khắp năm châu
Xa rồi vẫn nhớ hồi đầu giảng sinh.
 
 
 ƠN THẦY
                        An Nguyện
Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền
Sống đời ai đã làm nên
Nghĩa ân thầy tổ đừng quên bao giờ.
Thật vậy, công ơn Thầy giáo dưỡng đối với chúng con quả thật bao la vô bờ bến. Vì chúng con, Thầy phải chịu nhiều gian lao, khổ nhọc. Thầy đã đem không biết bao nhiêu mồ hôi tưới lên từng luống khoai, cây đậu để cho con được cắp sách đến trường. Rồi ngày tháng dần trôi không ngừng nghỉ, thân tứ đại của Thầy mỗi lúc một già nua, để un đúc cho con hôm nay được thành nhân chi mỹ.
Nay tuổi thầy đã quá thất tuần, nhưng vẫn chưa được nghỉ ngơi. Thầy còn phải lo toan mọi Phật sự, phát nguyện một lòng trùng tu ngôi Tam Bảo, để cho hậu thế chúng con có nơi nương nhờ an tâm tu học. Thầy quả là một tấm gương soi sáng, mà trong đời chúng con khó tìm thấy được.
Càng lắng đọng tâm tư, con càng thấy vô cùng cảm động trước tấm lòng từ bi, trước đại ân đại đức của thầy. Chúng con không biết phải làm sao để báo đáp trọn vẹn thâm ân nầy. Chỉ biết thành tâm nguyện cầu mười phương Tam Bảo gia hộ cho Thầy được pháp âm vô tận, lục độ vạn hạnh trang nghiệm, truyền trì mạn mạch Phật pháp, làm cho thiền đăng bất tuyệt tại thế gian.
 
 NHỚ MÃI TRONG TÔI
                                    Thích Nữ Như Giác
 
Nhớ ngày con mới vào thi
Đến chùa Hòa Khánh không vì công danh
Tay run lời nói chẳng rành
Bởi vì cầu học nên cùng đi thi
 
Hàng trăm huynh đệ tên ghi
Thấy người có vẻ không gì lo âu
Có người lo lắng ưu sầu
Mỗi người mỗi vẻ hồi đầu chuyên tâm
 
Trải qua năm tháng gieo mầm
Nay đà vững bước vượt tầm bay cao
Nhờ ơn Sư trưởng truyền trao
Chúng con mong được ngày nào đáp ơn


ƠN THẦY
Không thầy đố mày làm nên
Cần chuyên là việc vững bền mai sau
Muốn cho thầy được vui nào
Thì ta gắng học, không xao lãng bài
Muốn cho tâm sáng trí tài
Rèn trao gắng học đêm ngày cho thông
Dù cho biển lớn dày công
Cùng nhau hiệp sức cũng mong có ngày
Thỏi sắt đen đúa giờ đây
Nêu tay chí dốc ra tay mài mòn
Tức thì kim trắng lộ son
Tức thì tỏ rạng chẳng còn như xưa
Công thầy dạy dỗ sớm trưa
Nhọc công trao sức gió đưa ban ngày
Thiền môn mở khoá thi tài
Thiền sinh các chỗ tới ngay hội trường
Công thầy rải khắp tình thương
Thì ta gắng học hiểu tường tinh thông
Ngày sau đóng góp chút công
Đáp đền muôn một tấm lòng thầy ban.
 
 TRI ÂN
                        Thích Minh Thanh
 
Bóng chiều buông nhẹ bên thềm vắng
Gợi nhớ cố nhân dạ ngậm ngùi. 
Thành kính đảnh lễ niệm ân chư tôn đức giáo thọ sư.
Thưa cùng chư huynh đệ!
Ngày tháng thoi đưa, như thầm mang theo bao chuyện buồn vui mà chúng ta đã chắt chiu một thời cắp sách. Hồi hộp, đợi chờ, lo âu, đó là kỷ niệm đầu tiên khi đứng thuyết trình trên bục giảng “hít thở thật sâu”, vẫn biết thế, vẫn làm thế, không ăn thua… “thất bại là cái chắc”.
Thế rồi “thần tài gõ cửa”, lần này không phải “ban lộc” mà đến để báo tin vui trúng tuyển. Có thể nói, khoảnh khắc ban đầu lo sợ ấy, “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”.
Chư huynh đệ thân thương! Phải chăng sự hồi hộp, lo âu thuở ban đầu của một giảng sinh khi nghe kêu tên mình lên bục giảng ấy, đã làm tiền đề cho sự vươn lên trong học tập, để rồi trong mỗi chúng ta, ai cũng dần trưởng thành theo năm tháng.
 Thế rồi, ngày lại ngày nối tiếp theo nhau, trong tình thương yêu pháp lữ, sự dìu dắt của quý thầy cô, lòng chở che của ngoại hộ, đặc biệt là giảng đường chùa Hoà Khánh, nơi ấy đã để lại trong ta những tháng ngày êm đềm, với bao chuyện buồn vui trong học tập, có những điều đang nói, và chư nói… ấy thế mà!
Cuộc trùng phùng đã đến hồi kết thúc
Còn trong nhau bên ký ức học đường
Chút tình thầy nghĩa bạn trọn niềm thương
Làm lẽ sống cho mình cho tất cả.
Thời gian! Nhịp thời gian, sao lòng nghe thổn thức, cuộc chia tay định sắp được diễn bày, để sân trường vàng lá khắp chiều bay, cho bảng cũ lòng thầm thường thương bụi phấn. Ve đang gọi xin hè đừng đến vội. Phượng chưa rơi sao lòng xuyến xao, chút hương thầm bên khung cửa chờ mong, xin gửi trọn trong nhau giờ chia cách.
Thưa cùng chư huynh đệ! Thế là ba năm đã đi qua, ba nưm so với dòng thời gian thì không gọi là bao, nhưng đối với một học Tăng lưu trú như chúng ta là những chuỗi ngày đèn sách đáng nhớ, phải chăng!
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”
“Tiếng hát con tàu”, nhà thơ Chế Lan Viên đã nói thế, và có lẽ trong mỗi chúng ta ai cũng đồng cảm như thế, phải không chư huynh đệ!
Rồi đây trên vạn nẻo đường đời, mỗi người một định hướng tương lai, nhưng tin chắc rằng những ngày tháng êm đềm bên trang sách, dưới mái giảng đường chùa Hoà Khánh, cùng sự truyền trao kiến thức của quý thầy, cô khả kính, sẽ chắp cánh vươn xa cho mỗi chúng ta trong niềm tin chánh pháp. Với lòng tri ân báo ân của người học Phật, chúng ta sẽ thầm nguyện cố gắng hoàn thiện chính mình trong cuộc sống để những cánh hoa đầy hương sắc luôn tô đẹp cho cuộc đời.
Dù đi đâu về đâu, giữa dòng đời với muôn ngàn thay đổi, có đôi khi lòng chợt nhớ, chợt thương về quá khứ xin hãy tìm nhau qua ký ức học đường, và hãy giữ mãi trong nhau những gì cao đẹp nhất bên giờ phút chia xa…
Đêm chưa xuống sao lòng nghe quạnh vắng
Ngày chưa đi sao nắng vội phai màu
Hỏi thầm con nước về đâu…
Cho chiều nghiêng bóng, giọt sầu bâng khuâng.

 
XIN HỎI VÌ SAO?
 
Xin hỏi vì sao khoác áo nâu?
Vì ngừa oan trái rối tơ sầu
Chữ tâm công nửa vầng trăng khuyết
Chữ Phật hình tròn tợ quả châu
Chuỗi hạt chuyền tay không nỡ nghỉ
Tương chao rát cổ chẳng lo âu
Tu sĩ Thiền-gia vui rau đắng
Thích tử nguyện lòng khoác áo nâu.


MÁI TRƯỜNG HOÀ KHÁNH
                                                Thích Thiện Năng
 
Hòa khánh tự nơi mái trường yêu dấu
Lớp giảng sư Cao Cấp sắp ra trường
Rồi mọi người tung cánh khắp muôn phương.
Biết bao giờ có được ngày gặp lại
Rồi cứ thế dòng thời gian trôi mãi
Trong những ngày cắp sách nắng cùng mưa
Cùng các bạn đổi trao thi diễn giảng
Có những ngày mưa rơi tầm tã xuống
Giáo thọ sư vẫn giảng dạy hết lòng
Có những ngày cúp điện giữa trời đông
Vẫn học tiếp với lòng đầy nhiệt huyết
Dù những ngày lễ rằm hay tập huấn
Bận việc gì cũng đến lớp không thôi
Rồi năm tháng qua, chia tay biền biệt
Mỗi bước chân đi trên khắp nẻo đường
Đem pháp mầu ban trải khắp muôn phương
Để nhân loại vơi đi niềm đau khổ
Với bổn nguyện là hoằng dương chánh pháp
Với tấm lòng trên đền trả tứ ân
Dưới nguyện cứu Tam đồ còn đọa lạc
Chỉ có con đường thuyết pháp độ sanh
Theo chân Phật thực hành Bồ Tát Đạo
Ngưỡng mong ơn Phật từ bi gia hộ
Cho chúng con thực hiện đúng theo Ngài.
 
 
SÁNG MÃI TÌNH THẦY
                                      Chúc Hiếu
Năm tháng qua đi, xuân vẫn đến, hoa đào vẫn nở, chỉ có đời người là đổi thay, vụt qua…
Quả thật, thời gian của một đời người rồi sẽ qua đi, ai cũng vậy, nhưng qua đi không hẳn là mất tiêu, vô nghĩa. Hôm nay đã phôi thai từ hôm qua và ngày mai cũng sẽ từ hôm nay. Cho nên nói đến hôm nay không thể phủ nhận hôm qua. Thế nhưng con người thói thường hay đi ngược lại. Có thể họ chỉ tiếp nhận cái mới mà quên đi những kỷ niệm xa vời. Đối với chúng con thì không phải là những người vội quên đó. Chúng con dẫu đã xa trường, xa thầy, xa lớp nhưng vẫn luôn hoài vọng về thầy, luôn mong ước được trở về chốn cũ để được ôn lại những chặng đường đã qua và nhất là được nghe thầy tuôn mưa pháp.
Có những dòng sông trôi lênh đênh vô định theo thời gian, không bến bờ nhưng tất cả đều trở về biển cả. Cũng thế, cuộc đời con người là một chuổi dài, sống cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Chúng con đã từng lo sợ rồi mình cũng sẽ như thế. Nhờ có thầy đã chuyển hóa cõi lòng chúng con qua câu châm ngôn thật cao quý mà con đã khắc sâu tận đáy lòng: “Dẫu biết đời người vốn dĩ là như vậy. Khi ta sinh ra, mọi người nhìn ta cười, còn ta lại khóc. Vì thế ta phải sống làm sao để khi mất đi, mọi người nhìn ta khóc, còn ta lại cười.
Thầy ơi, lời dạy ấy chúng con vẫn cố gắng thực hành hằng ngày bằng cách tự hoàn thiện bản thân mình qua thân, khẩu, ý.
Thầy biết không? chúng con vẫn thường ôn lại những chặng đường đã qua, hâm nóng những kỷ niệm, dẫu biết rằng làm như thế là trái lời Phật dạy: “Quá khứ không truy tìm”. Nhưng thiết nghĩ, làm điều đó chính là biết quay về nhìn thẳng vào con tim mình, biết nhìn lại chính mình. Bởi có những lúc để có thể hiểu được những diễn tiến đã xảy ra trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta phải quay trở lại đi tìm nguyên nhân của những điều đã khiến cho đời sống của ta trở nên như thế nầy hoặc như thế kia. Đôi khi chỉ có một cái nhìn, một cử chỉ hay một câu nói cũng có thể thay đổi hẳn cuộc đời của chúng ta.
Cho nên thâm ý của câu nói mà đức Phật muốn nói chính là chúng ta có thể nhìn lại quá khứ nhưng không được tiếc nuối, nhìn lại quá khứ để tạo cho mình một nấc thang vững chắc, để có thể đặc chân vững vàng tiến đến tương lai.
Những kinh nghiệm trong cuộc sống đó mà hôm nay chúng con có được cũng nhờ sự chỉ dạy tận tình của thầy trong những tháng ngày chúng con còn ngồi dưới mái học đường. Thế mới biết cái thời còn cắp sách đến trường là quý báu biết bao nhiêu.
Hôm nay, dù chúng con đã sắp phải mỗi người mỗi ngã, không còn ngồi nới giảng đường chùa Hòa Khánh đầm ấm, để nghe tiếp những lời pháp ấm thầy truyền trao, nhưng lòng chúng con luôn hướng về thầy. Chúng con tin rằng, thầy vẫn luôn ở bên cạnh chúng con, luôn dõi theo bước chúng con đi và thẫy sẽ tiếp sức cho chúng con với những gì thầy có thể. Bởi thầy thường hay nói: “Những tăng ni sinh trẻ chúng con như những bông hoa vừa chớm nở trong vườn đạo, chưa thể tỏa hương đến khắp mọi người. Vì vậy rất cần sự gia tâm che chở của chư thiện hữu tri thức làm tăng thượng duyên cho những bông hoa kia trổ hương lan khắp muôn nơi.” Riêng đối với chúng con, niềm tin là điểm tựa để có thể vượt qua những thử thách phía trước.
Thầy ơi, chúng con sẽ không nói rằng thầy như người lái đò đưa khách sang sông, để rồi người khách lãng quên ngay người lái đò ấy. Mà chúng con sẽ nói thầy như con thuyền chở nặng những yêu thương và tình thương ấy thầy cho rồi lại nhận. Học trò của thầy cũng là khách sang sông, nhưng ra đi mang theo tình thương của thầy, sẽ mãi hướng về người thầy đã tận tụy vì đàn hậu thế.
SỨ MẠNG HOẰNG PHÁP
                                                Thích Nữ Hạnh Liên
Từ độ Ngài đi giữa vạn loài
Trần gian hiển hiện Đức Như Lai
Dư âm pháp nhũ nay còn vọng
Cứu vớt muôn loài thoát khổ đau.
Ngày ấy Chư Tăng theo tiếng gọi
Lên đường phổ hóa độ quần sanh
Nay nối tiếp khơi đèn tuệ giác
Gióng chuông từ tỉnh thức quần mê.
Chùa Hòa Khánh ươn mầm lý tưởng
Những đứa con Điều Ngự Trượng Phu
Mang chí nguyện ra đi phổ độ
Trước gian nguy chẳng vội đầu hàng
Vì nghe tiếng vọng về khổ hải
Của chúng sanh trong biển luân hồi
Thì đâu nỡ ngồi yên nhìn ngó
Ra đi ra đi vì sứ mạng
Lau lệ lòng nhân thế triền miên
Để vườn đời nở hoa hạnh phúc
Và mĩm cười xây dựng tương lai
Khắp muôn nơi vang tiếng Phật Đà
Cõi trần thế trở thành cực lạc
Bao lửa hờn thành đóa sen tươi
Như vậy mới đền ơn giáo hóa
Của ân sư giáo thọ ngày nay.
 
THI TỐT NGHIỆP GIẢNG SƯ
                                                            Thích PhướcTrí
Hôm nay tựu lại học đường
Cùng thi tốt nghiệp ra trường giảng sư
Ba năm không thiếu không dư
Tình Thầy nghĩa bạn trang thư để đời
Dù mai tung cánh muôn nơi
Mái trường Hòa Khánh muôn đời không quên


 
GIỮ SÁU CĂN NHƯ RÙA GIỮ THÂN,
PHÒNG HỘ Ý NHƯ GIỮ THÀNH
                                                       Thích Nữ Hạnh Liên dịch
Thuở xưa, khi Đức Phật còn tại thế có một đạo sĩ ngồi thiền dưới gốc cây bên bờ sông. Trải qua mười hai năm mà ý tham vẫn chưa trừ được, tâm ý tán loạn dong ruỗi, chỉ nhớ nghĩ lục trần, mắt duyên theo sắc, mũi duyên theo hương, lưỡi duyên theo vị, thân và tâm pháp. Thân này thì ở yên, tâm thì dạo chơi chưa có lúc nào an ổn. Thế nên trong mười hai năm không thể đắc đạo. Đức Phật biết vị này có thể độ được, liền hóa làm vị sa-môn đến cùng ngồi dưới gốc cây. Một lúc sau trăng lên thì có một con rùa từ dưới sông ngoi lên, nó từ từ bò đến bên gốc cây. Lại có một con rái cá đi thất thiểu kiếm ăn, gặp rùa nó liền định ăn thịt, rùa liền rút đầu, đuôi và bốn chân vào mai của nó, khiến con rái cá không có cơ hội để ăn thịt. Chờ cho rái cá đi xa, rùa liền ló đầu, đuôi và bốn chân ra và bò đi như cũ, con rái cá không làm gì rùa được. Rùa được giải thoát. Thấy thế, đạo nhân hỏi vị sa-môn:
- Con rùa này có bộ giáp hộ mạng, khiến con rái cá không có cơ hội thuận tiện?
Vị sa-môn đáp:
- Tôi nghĩ người đời không bằng con rùa này. Vì họ không biết vô thường mà phóng túng sáu căn khiến cho ngoại ma có cơ hội xâm nhập. Khi thân hoại thần thức bỏ đi nơi khác thì sinh tử không có đầu mối, cứ trôi lăn trong năm đường, khổ não vô cùng đều không ngoài ý tạo ra. Nên tự cố gắng để cầu giải thoát an ổn. Thế rồi vị sa-môn liền nói bài kệ:
Thân này chẳng lâu dài
Phải trở về với đất
 Khi thân này tan hoại
Cái tham gởi đi đâu
Những điều do tâm tạo
qua lại không đầu mối
Các tâm niệm rối ren
Tự mình chuốc lấy họa.
Đây là do ý mình
Chẳng phải là cha mẹ
Nên hướng về chân chính
Làm phước chớ lui sụt
Hãy giữ lấy sáu căn
Như rùa giữ thân mạng
Phòng ý như giữ thành
Dùng trí đấu ma quân.
Lúc ấy vị tì-kheo nghe nói kệ xong, liền dứt lòng tham và chứng quả A-la-hán. Biết vị sa-môn đó là Đức Phật, tì-kheo liền chỉnh trang y phục, cung kính cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật.
(Trích kinh Pháp Cú Thí Dụ, phẩm Tâm Ý, quyển 1).
 
 CẢM NIỆM VỀ ĐỜI ĐỨC PHẬT
                      Thích Nữ Tánh Tuệ
 
Mọi vật đều có thể bị thời gian xóa nhòa, lớp bụi thời gian càng dày mọi vật dường như càng đi vào quên lãng.Thế nhưng, trước trí tuệ siêu việt, trước tấm lòng cao cả của Bậc Thánh nhân minh triết, thì thời gian càng dày lại càng tô thêm vẻ đẹp rực rỡ hơn nữa.

 Đã qua rồi, hơn 25 thế kỷ mà hình ảnh của Đức Phật- Bậc đạo sư của trời người –Đấng cha lành của muôn loài, vẫn mãi sáng ngời trong nhân thế. Bởi lẽ, Ngài là hiện thân viên mãn, toàn bích về Từ bi, Trí tuệ, Đức hạnh tuyệt vời .Ngài thị hiện là vì an lạc và hạnh phúc cho số đông, cho chư Thiên và loài người. Cho đến hôm nay, những dòng pháp âm vi diệu của Ngài vẫn như những tinh lực mầu nhiệm rót vào cuộc đời , để xây dựng cuộc sống ngày càng thăng hoa, khởi sắc hơn. Đến giờ đây, mỗi khi niệm ân Ngài là mỗi khi hậu thế phải thành kính bái phục và đê đầu đảnh lễ.
Các nhà sử học càng đi sâu vào lịch sử Đức Phật thì Ngài lại càng được tôn kính là Bậc siêu nhân “Vô tiền khoáng hậu”, như đại thi hào Tagore khẳng định rằng: “Đức Phật là con người vĩ đại nhất sinh ra trên cuộc đời này”.Thành Phật là ánh sáng nhiệm mầu kết tinh của vô lượng kiếp tu trì lợi lạc chúng sanh, nên nói:
Nước mắt kia dù tràn ngập đại dương.
Niềm đau khổ dù lấp đầy mặt đất.
Đều tan vỡ dưới bước chân của Phật.
Ánh hào quang soi sáng tận muôn lòng.
Tại sao chúng ta tôn xưng Đức Phật là Đấng Đại hùng Đại lực?
Nhìn qua lịch sử từ xưa đến nay có biết bao anh hùng cái thế lập nhiều chiến công hiển hách trên chiến trường, lẫy lừng với bao vinh quang hiển hách, nhưng thử hỏi có mấy ai chiến thắng được dục vọng của chính mình? Từ Tần Thủy Hoàng, Cesar đến Thành Cát Tư Hãn rồi Napoleno…cho ta thấy điều này rất rõ. Còn Thái tử Tất Đạt Đa sinh ra trong vinh hoa phú quí,lớn lên trong tột đỉnh quyền uy mà Ngài vẫn khước từ tất cả để ra đi tìm ánh đạo cho nhân sinh thoát khỏi khổ sầu, cuộc ra đi này được xem là “Độc nhất vô nhị” trong dòng lịch sử nhân loại, vì đây chính là “cuộc thoát ly ngục vàng”. khi cất bước đăng trình chỉ có hai bàn tay trắng, phía trước Ngài là vạn dặm sơn khê, không có tiền hô hậu ủng cũng không có hoa đèn kết ngõ, kèn trống rình rang, có chăng chỉ là những dặm đường gió bụi, mưa nắng, sương tuyết, có chăng chỉ là những vất vả gian khổ. Cuộc ra đi một hình một bóng nhưng lại hùng vĩ như thiên sơn vạn thủy, dũng mãnh như bá vạn hùng binh. Ngài không chỉ chiến thắng hoàn cảnh, mà còn chiến thắng tự thân, hàng phục Ma Vương, thành tựu Bồ Đề Giác Ngộ, cho nên chúng ta tôn xưng Ngài là Đấng Đại hùng đại lực.
Tại sao chúng ta tôn xưng Ngài là Đấng Đại Từ Đại Bi?
Ngài đi tìm ánh đạo không phải vì quyền lợi riêng tư, cũng không phải vì tình thương hạn hẹp ở gia đình, cha mẹ, vợ con, bè bạn, quốc gia, lãnh thổ mà vì tình thương vô hạn đối với muôn loài chúng sanh.Tình thương rộng lớn chính là chất liệu ngọt ngào, làm vơi đi nỗi thống khổ trên cuộc đời.Ngài đã để lại một tuyên ngôn bất hủ “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn”, do đó tình thương phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, mất tình thương có thể tạo thành giai cấp, và đã có giai cấp thì đương nhiên sẽ có đấu tranh, đồng nghĩa là khổ đau có mặt. Đức Phật đã thể hiện tình thương trên khắp mọi nẻo sống của kiếp người.
Tại sao chúng ta tôn xưng Ngài là Đấng Đại Hỷ Đại Xả?
Vì tình thương yêu rộng lớn không bỉ thử, thân sơ Ngài từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, uy quyền lạc thú trần gian, hay nói khác đi danh lợi bạc vàng, ngôi cao cửu ngũ, gác tía lầu son đã không đủ sức cầm chân, mà gian lao khổ hạnh, nguy biến chập chờn cũng không trì níu được bước chân Ngài đi tìm ánh đạo cho muôn thuở, Ngài đã chiến thắng một cách vinh quang mà không cần ngựa xe võng lọng, cũng không cần xây dựng lăng tẩm đền đài, trên thượng đỉnh đài sen hào quang của Ngài sáng tỏa vượt không gian và thời gian, đem lại an lạc cho muôn xứ muôn nơi. Cuộc đời của Ngài là biểu hiện sống động cho giáo lý của Ngài mà giáo mục Milman đã viết lên rằng: “Tôi càng ngày càng thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là đường lối-là lẽ sống-là chân lý”.
Bên cạnh đó, Ngài cũng là bậc đại hiếu đại nghĩa. Sau khi thành đạo Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ để thăm phụ vương Tịnh Phạn, rồi thuyết pháp cho cả hoàng gia, sau khi thấm nhuần dòng pháp nhũ thiêng liêng cao quí, phụ vương đã chứng thành quả. Đến khi hay tin vua băng hà Đức Phật lại trở về để lo tang lễ, không những thế Ngài còn nghiêng vai khiêng linh cữu phụ hoàng. Hơn nữa, Ngài còn lên tận cung trời Đao Lợi để thuyết pháp cho thánh mẫu Ma Gia ngõ hầu lợi lạc an vui, như vậy báo hiếu cha mẹ không chỉ bằng vật chất mà còn phải có tinh thần, xa hơn nữa là làm sao để cha mẹ không những an vui, hạnh phúc đời này mà còn ở đời sau, thử hỏi đã có mấy ai làm được điều đó?. Trước khi thuyết pháp độ sanh, Đức Phật đã nghĩ đến những vị thầy trước kia dạy đạo cho mình, nhưng tiếc rằng các ông Alalam và Uất Đầu Lam Phất đã qua đời trước đó không bao lâu, rồi Ngài nghĩ đến năm anh em KiềuTrần Như và thuyết bài pháp đầu tiên cho họ, Ngài cũng không quên niệm ân cây Bồ Đề đã che nắng che mưa cho Ngài trong suốt thời gian tọa thiền. Chỉ điểm sơ qua vài nét ta thấy Đức Phật là bậc trọng nghĩa tri ân.
Ngôn ngữ trần gian quá ít ỏi, làm sao có thể nói hết được công hạnh về cuộc đời Đức Phật, hàng hậu học chúng con xin mạo muội cảm niệm đôi dòng để lấy đó làm kim chỉ nam trên lộ trình tu tập. Kính lạy Đức Phật từ bi, chúng con xin nguyện nối gót Ngài sống đời giải thoát an vui giữa trần lao phiền não, ngưỡng nguyện chí thành đặt trọn niềm tin tuyệt đối nơi Đức Từ Phụ làm sáng danh người Thích tử, để xây dựng nếp sống văn minh tốt đẹp và đem lại lợi ích an vui ngay tại thế gian này, góp phần phồn thịnh cho đất nước thân yêu, luôn tâm niệm:
“Người xưa đại nguyện quyết xuất trần.
Người nay nối gót quyết toàn thân.
Đem lại ánh đạo soi muôn nẻo.
Chẳng uổng hôm nay có trong trần”.
 
Hoằng pháp
                                    Thích Nguyên Minh
 
Hoằng pháp mọi đời phải gắng công
Anh em một họ phải chung lòng
Tháng ngày qua lại dù cay đắng
Vững chí bền tâm kẻo uổng công
 
Noi gương cổ đức nguyện tinh tấn
Rèn luyện cho tâm đạt chơn không
Hoằng pháp là hoằng chơn tâm vậy
Tứ ân vẹn đáp rạng tổ tông
                            
NIỀM TIN VÀ ƯỚC VỌNG
                                      Thích Nữ Thu Liên
Cuộc đời Đức Phật là một bài thơ trầm hùng trác tuyệt, một họa phẩm không phai tàn, một đại dương không bao giờ vơi cạn. Gần ba thiên niên kỷ trôi qua, hình ản Đức Thế Tôn, đấng Đạo Sư của trời người, cha lành của muôn loại, vẫn luôn tỏa sáng như vầng thái dương trên bầu trời bao la vô tận, đã tô điểm cho nhân thế một sắc màu hoan ca, an lạc, thái bình. Nếu những ai muốn tận hưởng hương vị vui sướng, thanh thoát nhẹ nhàng ấy thì cần phải đi vào vườn hoa đạo lý của Phật Pháp thì mới có thể thấu hiểu được một cách tường tận, mà người xưa thường bảo rằng: “ẩm thủy lãnh noãn tự tri”, nghĩa là uống nước nóng, lạnh tự mình thấu hiểu, chúng ta không thể dùng ngôn từ diễn tả để cho người khác thấu hiểu những cảm giác thưởng thức của mình một cách tường tận giống như tự mình trải nghiệm được. Giáo Pháp của Đức Phật cũng thế, chúng ta đến để mà thấu hiểu, rồi mới tin chắc, đâu là chân lý của hạnh phúc, đâu là bến bờ của khổ đau. Từ một Niềm Tin chân chánh đó mới thúc đẩy chúng ta ước vọng và chắp cánh bay cao, bay xa về chân trời an vui hạnh phúc muôn đời. Vậy Niềm Tin đó là gì? Ước vọng ấy ra sao? Chúng ta từng bước, tìm hiểu vấn đề một cách cụ thể sau đây.
Trước hết là Niềm Tin- Niềm tin này phải được thiết lập trên cơ sở của nhận thức, của sự hiểu biết một cách thấu đáo tường tận, bắt nguồn từ một nội tâm sáng suốt, khẳng định đó là chân lý, có khả năng đưa tất cả chúng sanh tiến đến đời sống an lạc hạnh phúc lâu dài.
Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Niềm Tin là mẹ các công đức. Tin có thể thành tựu quả Bồ-đề”. Niềm Tin là một đặc tính không thể thiếu trên con đường tâm linh. Với Tam Bảo- Phật, Pháp và Tăng là quan trọng nhất đối với chúng ta. Khi nói về Đức Phật, Cổ đức có vần thơ ca ngợi như sau:   
“Con tin Phật một gương lành cao cả
Bậc soi đường trí huệ rộng thênh thang,
Là từ bi, là trí tuệ muôn ngàn,
Phá tất cả những tương tàn, tương sát”
Đức Phật, bậc siêu phàm, hy hữu, có một không hai trên trần gian. Ngài cũng là một con người, nhưng trên hết mọi người. Dù cho chúng ta dùng tất cả ngôn ngữ của trần gian cũng không sao diễn tả được hết những công hạnh và trí tuệ cao cả, viên mãn trên lộ trình tu tập, chứng đắc đạo quả, phổ độchúng sanh của Ngai.
Thời Đức Phật còn tai thế, có một vị Tỳ-kheo quá ngưỡng mộ Đức Phật, ông luôn theo sát chân của Ngài. Đức Phật đi đến nơi nào thì vị Tỳ-kheo đi đến nơi đó. Một ngày kia vị Tỳ-kheo bị bệnh, ông phải nằm trên giường và cứ khóc than mãi. Khi các bạn đồng tu đến thăm và hỏi:
- “Tai sao ông khóc? Bệnh ông đâu đến nổi nào. Có việc gì thế?”
 - Ông đáp,“Tôi khóc vì do nằm bệnh, tôi không thể gặp được Đức Phật”.
 - Các vị Tỳ-kheo khác trả lời, “Ông chớ có lo âu, chúng tôi sẽ báo lại với Đức Phật. Ngài sẽ đến thăm ông”.
- Khi hay tin, Đức Phật lập tức đến thăm Tỳ kheo bệnh, làm vị ấy vui hẳn lên. Lúc đó Đức Phật thuyết rằng: “Ai thấy Như Lai là thấy pháp, ai thấy pháp là thấy Như Lai”.
Ai thấy được Đức Phật thì không thấy gì hơn là sự giác ngộ giải thoát, là điều căn bản của pháp. Ai có thể thấy pháp trong nội tâm của mình, là thấy Đức Phật, đồng nghĩa với giác ngộ. Báu vật quý giá nhất là nhận ra được Pháp nơi chính bản thân mình.
Khi chúng ta có lòng tin nơi Pháp sẽ giúp cho chúng ta có thêm động lực để thực hành, Pháp là báu vật quý giá hơn tất cả mọi thứ quý giá trên đời. Vì chỉ có Pháp mới có thể giúp chúng ta chuyển hóa được mọi khổ đau, vượt qua mọi trở ngại trên thế gian này để đạt đến bến bờ an vui hạnh phúc.
“Pháp là con đường sáng
Đưa người thoát khỏi mê
Giúp chúng sanh trở về
 Sống cuộc đời tỉnh thức”.
                                    (Kinh P.C)
 Niềm Tin chân chánh là đức tính đầu tiên để chúng ta ươm trồng hạt giống Bồ Đề và thành tựu quả vị giác ngộ. Niềm tin Pháp cho chúng ta thấy được chân lý tuyệt đối, và không có gì hiện hữu trên cõi đời này không chứa đựng pháp, không mang tính vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta), tất cả đều là pháp. Đối với tất cả mọi chúng sanh không thoát ly ra vòng quỹ đạo của vô thường, khổ và vô ngã. Do đó, tất cả đều chất chứa khổ đau.
Từ niềm tin và lòng kính trọng đối với pháp được thể hiện qua thái độ của chúng ta đối với tha nhân, đối với việc tu tập và lòng biết ơn về những bậc Ân sư (Tăng Bảo) đã tạo duyên lành đưa chúng ta đến với con đường Thánh đạo. Với Niềm tin và lòng quý kính Tam Bảo sẽ giúp cho chúng ta phá trừ bức tường thành ngã mạn, các định kiến về chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi, ích kỷ, chấp ngã, chấp pháp… Con đường đưa đến khổ đau, của luân hồi sanh tử.

Tiếp theo đó là một ước mơ, với niềm khát khao, ngưỡng vọng về bến bờ giải thoát sẽ tác thành niềm hy vọng từ nơi chính con người của mỗi chúng ta đủ sức vươn lên, đủ sức chuyển hóa từ tâm thức mê mờ, tham ái và chấp thủ, thể hiện qua những hành vi đầy tội ác đem đến khổ đau; thành tâm thể sáng ngời, tròn đầy những đức tính Từ-Bi-Hỷ-Xả, vô ngã, vị tha…
Niềm tin nếu hoàn toàn triệt để sẽ giúp cho chúng ta khẳng định con đường mà mình đã chọn. Dù rằng chưa tìm ra chân lý, nhưng đó là sự thỏa hiệp, sự chấp nhận từ nội tâm, một ước vọng hay hy vọng về một sự thay đổi, sự chuyển hóa hoàn toàn, có thể thoát khỏi khổ đau và tiến đến tự do, giải thoát giác ngộ hoàn toàn.
Tóm lại, niềm tin tuyệt đối vào Tam Bảo- Phật, Pháp và Tăng mới có đủ sức mạnh giúp chúng ta vượt lên mọi cám dỗ đời thường, và thực hành theo con đường giác ngộ của Đức Phật đã đi qua. Với Niềm tin và ước vọng không chỉ là một sự thấy biết hay chỉ là một sự nhận thức trừu tượng, mà phải thông qua bằng sự nỗ lực, sự chuyên cần, phấn đấu vượt qua để đạt đến con đường giác ngộ, giải thoát cho mình và tha nhân, hầu báo đền thâm ân Đức Phật và thân ân giáo dưỡng của các bậc An sư khả kính.
                                                            
 
 XA RỒI
      Thích Minh Đăng
 
Xa rồi trường lớp thân thương
Xa rồi Giáo thọ khai đường lối đi
Xa rồi pháp lữ đồng quy
Cùng vui tu học khắc ghi vào lòng
Xa rồi giây phút đợi mong
Bước lên bục giảng xa trông mọi điều
Bồi hồi lo lắng bao nhiêu
Giờ thành kỷ niệm nhớ nhiều người ơi.

 
Sự tương quan giữa văn hóa Phật giáo và truyền thống dân tộc
                                                                              Thích Pháp Tạng
            Như lời của nhà thơ hiện đại Hồ Dzếnh đã viết:
                        “Trang sử Phật
                        Đồng thời trang sử Việt
                        Trải bao độ hưng suy
                        Có nguy mà không biến.”
Đây là một quá trình thành tựu nền văn hóa Việt Nam, kéo dài từ những năm đầu công nguyên cho đến ngày nay và vẫn tiếp tục cho đến khi nào Phật giáo vẫn còn tồn tại trên đất nước Việt Nam. Sự hội nhập đó là quá trình hòa hợp của Phật giáo thời đại với những tư thế như là một nguồn văn hóa ngoại lai, biến thành nền văn hóa Việt Nam thuần chất. Một quá trình mà trong đó đạo Phật được dần dần bản địa hóa và trở thành một phần của nền văn hóa thời đại Việt Nam.
1. Văn hóa Phật giáo trong quan hệ với bản sắc dân tộc
Văn hóa là một cội nguồn dân tộc, dân tộc Việt Nam tự hào với lịch sử có bề dày bốn ngàn năm hơn một quá trình hòa nhập văn hiến. Nhưng khi nhắc đến nền văn hóa Việt Nam thì không ai không biết đến nền văn hóa Lý- Trần, hai triều đại huy hoàng nhất của lịch sử Việt Nam độc lập tự do sau hơn một nghìn năm đô hộ của phương Bắc. Điều đáng ghi nhớ là tư tưởng chủ đạo cho nền văn hóa, văn minh thời đại ấy, chính là nền văn hóa Phật giáo. Nổi bật hơn hết trên chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước là công lao to lớn của Phật giáo đời Trần. Dĩ nhiên, không phải đến thế kỷ thứ 12 đời Trần thì văn hóa Phật giáo mới có những điểm đặc sắc và những dấu ấn vàng son của mình vào lịch sử dân tộc, mà trước đó đã có một nền tảng vững mạnh của văn hóa đời Lý. Do vậy khi bàn về những đặc sắc của văn hóa Phật giáo đời Trần, thì chúng ta cũng cần tìm hiểu lại bối cảnh xã hội và Phật giáo đời Lý, cũng như sợi dây móc xích giữa hai triều đại. Song, vì phạm vi bài viết có giới hạn, nên người viết chỉ xin đề cập đến những vấn đề chính của Phật giáo đời Trần.
Vậy văn hóa là gì?Theo thông tin UNESCO số tháng 1 năm 1988 nói: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc.”
Vậy khi nói đến văn hóa Phật giáo đời Trần, là nói đến những trang sử hào hùng của dân tộc, một thời đại hoàng kim của Phật giáo, một điển hình tiêu biểu, mang một bản sắc dân tộc thuần túy. Đặc biệt, văn hóa Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng trong tâm hồn dân tộc Việt (mái chùa che chở hồn dân tộc), nếu chúng ta tách rời nó ra thì những giá trị nhân bản dân tộc Việt sẽ không còn giá trị nữa. Vì thế, đây là một nền văn hóa khá đậm nét về mặt nghệ thuật, điêu khắc, hội họa, là đỉnh cao của mọi thời đại.
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Trần vẫn tiếp tục tỏ rõ sự kế thừa truyền thống vốn có từ trước, nhưng phong cách có phần phóng khoáng, khỏe mạnh và hiện thực hơn. Được xây dựng nhiều hơn cả là các công trình qui mô nhỏ trong thời đại Trần như: Chùa, tháp, đền và miếu… tất cả đều mang đậm màu sắc Phật giáo, một ít là của Đạo giáo. Gắn liền với những công trình kiến trúc là những tác phẩm điêu khắc, và những tác phẩm thể hiện bản sắc riêng của nghệ thuật điêu khắc đời Trần. Người ta thấy có nhiều họa tiết hoa sen, hoa cúc…, đặc biệt là hình đồng trơn và lá đề, vốn phổ biến dưới thời Lý- vẫn là họa tiết trang trí chủ đạo trong điêu khắc. Phải chăng, những họa tiết này vẫn còn mãi đến các thời đại sau, được tìm thấy ở các chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chùa Long Hội (Hà Nam), chùa Phổ Minh (Long Định)…. Những pho tượng Quan Âm không đường bộ, siêu phàm nhưng thần thái thanh nhã, khoan dung. Gương mặt của những pho tượng Bồ tát có vẻ gần gũi, thân thiết, trang trọng và đầy thiện cảm, siêu thoát nhưng không xa lánh đời thường. Trong mỗi bức tượng người xem như nhìn thấy chính mình ở trong đó. Một vị thần nhưng là thần dân, thần nhưng là người, một con người với vẻ hoàn thiện Việt Nam, đây là một trong những điểm đặc sắc nhất của nghệ thuật điêu khắc mang tính Phật giáo. Ngày nay các nhà nghiên cứu khảo cổ văn hóa Phật giáo thế giới nói chung và nền văn hóa Phật giáo Việt Nam nói riêng, đây là điểm người ta quan tâm nhất.
Nghệ thuật ca múa nhạc là một loại nghệ thuật có lịch sử lâu đời nhất, đã phát triển khá cao và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của dân tộc, như hát ả đào xuất hiện, hát chèo và hát tuồng cũng đang trên quá trình hình thành và phát triển. Trong lĩnh vực sinh hoạt, từ xưa chùa chiền là nơi diễn ra nhiều lễ hội dân gian, cũng là nơi nảy sinh nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt. Ngày hội tắm Phật vào tháng tư âm lịch hằng năm không chỉ là một ngày lễ hội thuần túy nghi thức tôn giáo, theo truyền thuyết Man Nương (Việt Điện U Linh) mà còn là ngày nam nữ bốn phương tụ hội về chùa mà vui chơi ca múa. Có thể nói, nghệ thuật đời Trần đã thể hiện đặc điểm bao quát là sự vĩnh hằng, sự sáng tạo của nghệ nhân luôn là sự hài hòa giữa tư tưởng và ngoại cảnh. Toàn bộ kiến trúc của những công trình xây dựng đều thể hiện vẻ uy nghi mà thanh tao, tĩnh mạch mà gần gũi, cởi mở. Xen lẫn vào đó là những công trình điêu khắc thể hiện khát vọng của cư dân nông nghiệp lúa nước. Có thể nói, quá trình hòa nhập của nền văn hóa Phật giáo đời Trần luôn là sự uyển chuyển và hài hòa, mềm mại, phong cách thể hiện một sự thanh thoát đầy tính nghệ thuật, luôn xen lẫn giữa thiên nhiên và con người thời đại.
Và, “nếu như mỗi thời đại, bằng sức mạnh cải tạo hiện thực của thời đại mình, thì luôn là tính độc đáo nghệ thuật về bề dày lịch sử, không trùng với những thời đại khác, và cũng để lại một dấu ấn khó lẫn trong đời sống tư tưởng dân tộc thơ văn. Tư tưởng của nền triết lý sống “động và tĩnh” đây là dấu ấn nhận thức tư tưởng và nhận thức nghệ thuật mà thời đại Trần đã khắc sâu vào lịch sử. “Động và tĩnh” có lẽ có nguồn gốc sâu xa ở các thế hệ triết học- tôn giáo hỗn dung trong giai đoạn Lý- Trần, nhất là triết học Lão Trang và Phật giáo, nhưng phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn của chính cuộc chiến tranh vệ quốc thì mới có sức mạnh mẽ, trở thành hình thức biểu hiện đặc thù của đời sống tư tưởng thời đại”. Nếu “không dấn thân vào cơn cuồng phong dữ dội, đặt trên bình diện quốc tế, của ba lần quân Nguyên tràn xuống Đại Việt với chiến lược kỳ binh chưa từng nếm mùi thất bại trên chiến trường Âu- Á, và ba lần bị Đại Việt chặn đứng và đẩy lùi bằng chiến lược lui binh tự vệ khôn khéo và chớp nhoáng phản công, hẳn cũng không khó lòng có được khái quát triết học trong một mệnh đề nổi tiếng của Hưng Ninh vương Trần Tung, về cái “động” tuyệt đối của khách thể, vũ trụ, mà ngày nay ai cũng dễ dàng so sánh với mệnh đề của Hê- Ra-Cơ-Lit (Heraclite) của Hy Lạp cổ đại: không ai tắm được nước của một dòng sông đến hai lần.”
Với những trạng thái chuyển động không ngừng của thế giới quanh ta như vậy, cái “tĩnh và lặng” được thể hiện trong sáng trong tâm hồn của một Thiền sư:
“Cảnh thanh u, vật cũng thanh u
Mười một châu tiên, đây một châu,
Trăm tiếng đàn ca, chim sánh giọng
Nghìn hàng tôi tớ: quất nhô đầu,
Trăng vô sự, chiếu người vô sự
Nước ngậm thu, lồng trời ngậm thu…”
        (Nguyễn Đỗng Chi dịch).                   
Cái “tĩnh” ở đây khác với cái “động” bên trên là một thuộc tính tương đối của sự vật, cũng như cái “tĩnh” bắt nguồn từ tâm đứng vững chãi của người ngắm cảnh, con người vừa hoàn thành một sự nghiệp lớn lao và lãnh đạo toàn dân đánh bại kẻ thù ra khỏi bờ cõi của đất nước.
Động tựa hang không gào gió táp,
Tĩnh như đầm lặmg rọi trăng thanh.”
                                                (Liễu Ngộ, Hải Thạch dịch).
Đây là quan hệ đời sống phức tạp, đa dạng của nền văn hóa Phật giáo đời Trần, cuộc sống được cảm nhận không chỉ trên bề mặt, không cô lập trong một chiều hướng nhất định, mà nó luôn luôn uyển chuyển. Từ đó, tạo nên một nền văn hóa sống động, luôn hiện hữu với những nét đẹp, có những bản sắc độc đáo riêng, chiều sâu tư tưởng thơ văn đời Trần, mà luôn hàm chứa những sự kiện lịch sử, những cơn lốc của chiến tranh, nhưng vẫn giữ được sự vững mạnh trường cửu:
Xã tắc hai phen chốn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.”
                                                            (Trần Trọng Kim dịch).
Xoay lại vấn đề, chúng ta nhìn thấy không hẳn ngẫu nhiên mà một số nhà văn hóa Việt Nam đã gọi năm đầu thế kỷ của thiên niên kỷ thứ hai là nền văn hóa nổi bật nhất của nhà Trần. “Về phương diện văn hóa đây là một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Sự phát triển đó thể hiện hào khí của cả một dân tộc, đồng thời đang ra sức xây dựng một quốc gia thống nhất vững chắc về mọi mặt. Sự phát triển đó cũng đem lại một kết quả của một quá trình giao lưu văn hóa dài lâu.” Quá trình giao lưu ấy chính là sự hòa nhập giữa văn hóa bản địa với các trào lưu văn hóa ngoại lai, mà nổi bật hơn hết là Phật giáo.
II. 2. Văn hóa Phật giáo với truyền thống dân tộc thời đại
“Dân tộc Việt Nam có một truyền thống yêu nước mạnh mẽ, mà biểu hiện sáng ngời và thử thách nhiều lần trong trường kỳ lịch sử, là ý chí chiến đấu bảo vệ nền độc lập của tổ quốc. Độc lập tự do của tổ quốc đã trở thành lẽ sống của triệu triệu người Việt Nam chân chính, xứng đáng với tên gọi “Con Hồng Cháu Lạc”. Nếu vì nước là lẽ sống, thì yêu nước là phẩm chất, là thước đo giá trị. Nó vừa là điểm xuất phát, lại vừa là mục tiêu cao nhất, là cứu cánh.”
Lịch sử đã cho ta thấy, trên mọi lĩnh vực tư tưởng dân tộc, tinh thần yêu nước, nền văn hóa luôn luôn cần phải có một tinh thần uyển chuyển hài hòa, nhưng không đánh mất những bản sắc văn hóa dân tộc. Song, Phật giáo luôn là một vị trí hàng đầu trong mọi vấn đề tư tưởng thời đại. Có thể nói, văn hóa Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong văn học Việt Nam, thể hiện rõ trong văn hóa dân tộc. Văn hóa Phật giáo Việt Nam có những sắc thái đặc trưng riêng và những phạm trù rất rộng, khó có thể chuyển tải hết được những tư tưởng ấy, người viết chỉ nêu vài khía cạnh văn hóa mà nó mang nét đặc sắc của Phật giáo đời Trần.
Phật giáo đời Trần là một hình thức tiêu biểu, tuy họ đều trọng dụng Nho sĩ, như lập văn miếu thờ Chu Công, Khổng Tử. Nhưng họ không lệ thuộc vào những tư tưởng “thiên mệnh”. Với phương sách an dân, bảo vệ độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa luôn thấm đượm tinh thần Phật giáo: Bình đẳng- Từ bi- Trí tuệ và hỷ xả, Vua luôn lấy ý dân làm ý mình. Với một điều hết sức quan trọng, họ không “tư biện siêu hình và mơ mộng”, mà luôn thực tế để chọn những giải pháp tối ưu, khả thi để bảo vệ chủ quyền dân tộc, độc lập chính trị của tổ quốc. Vua luôn luôn sống gần với dân và hiểu dân, vì vậy họ đã phát huy sức mạnh của dân nhằm đảm bảo kháng chiến thắng lợi triệt để, và áp dụng chính sách toàn dân đoàn kết. Nói như Thi Hào Vũ Hoàng Chương trong bài “Nối Lửa Từ Bi” tác giả viết:
“Dân tộc ta không thể nào thua,
Đạo pháp ta đời đời xán lạn.
Dẫu trải qua mấy phân ly tán,
Bị áp bức, phao vu, bội phản.
Nhưng vẫn còn núi, còn sông,
Còn chót vót mãi ngôi chùa…”
Điều ấy, đã chứng tỏ các vị vua luôn vì nước vì dân, họ đã khẳng định vị trí đứng của họ, luôn sống với dân trên tinh thần “dĩ chúng tâm vi kỷ tâm”, “dĩ thiên hạ chi dục vi dục” để rồi trở lại xông pha nơi trận mạc đánh đuổi cho kỳ hết quân thù, để cho “non sông nghìn thuở vững âu vàng”. Với những con người tự do, tự tin mãnh liệt của thời đại ấy, là sản phẩm của sự kết hợp Thiền tông, dân tộc và thời đại, được thể hiện tiêu biểu qua bài thơ “Độc Phật Sự Đại Minh Lục Hữu Cảnh”của Trần Thánh Tông:
“Tứ thập niên dư nhất phiến thành,
Lao quan khiêu xuất vạn trùng quynh
Động như không cốc phong xao hưởng
Tĩnh tự hàn đàm nguyệt lâu minh.
Cú lý ngũ huyền thân thấu sắc
Lộ đầu thập tự nhập tung hành
Hữu nhân vấn ngã hà tiêu tức?
Vận tại thanh thiên, thủy tại bình.”
 (Hơn bốn mươi năm luyện thành một tấm lòng,
Đã nhảy ra khỏi hàng vạn tầng cửa địa ngục.
Động thì như tiếng gió vang trong hang trống,
Tĩnh thì tựa ánh trăng lọt xuống đầm lạnh.
Tự mình đã thấu được nghĩa lý của ngũ huyền,   
Mặc sức tung hành trên con đường bốn ngã.
 Có người hỏi ta sinh diệt thế nào?
Như mây trên trời xanh và nước trong bình).
Phải chăng, đặc sắc của văn hóa Phât giáo đời Trần là một triết lý sống, triết lý ấy không phải là một giáo điều cứng nhắc nên khiến mọi người phải thực hiện theo giáo lý ấy. Vì vậy, đạo Phật đã sản sanh những mẫu người lý tưởng, mà trong con người ở mọi thời đại cũng cảm nhận thấy tự hào. Tinh thần nhập thế tích cực ấy, mang một dấu ấn rõ nét của nền văn hóa dân tộc, giao thoa sống động giữa đời và đạo, giữa văn hóa Đại Việt với Phật giáo đời Trần. Có lẽ, đây là một luồng sinh khí mới mà Phật giáo đời Trần đã đem lại một không khí trong lành và dễ chịu nhất của một thời đại, với một ông vua hiển hách, một vị anh hùng tài ba, một nhân cách lớn như Phật Hoàng Trần Nhân Tông mà nghĩ đến quả thật là sâu sắc.
Cho đến những giây phút cuối của cuộc đời, ông cũng không quên lời khuyên nhũ với các đệ tử của mình khi dìu ông lên đỉnh Ngọa Vân: “Các ngươi hãy xuống núi lo tu hành, đừng coi sinh tử là việc nhàn”. Vâng, một con người sống hết mình vì nghĩa lớn và ngay cả khi xuất gia đầu Phật cũng là việc để lo cho sự trường tồn của đất nước thì làm sao có thể sống nhàn, nhất là để hưởng thụ? Phẩm hạnh cao quí ấy chính là tinh hoa của lẽ sống và tâm hồn dân tộc. Có thể nói, nền văn hóa Phật giáo đời Trần là một quá trình xuyên suốt và hợp thành giá trị truyền thống của con người, cũng là phương cách ứng xử với cộng đồng xã hội. Với một tư tưởng nhất quán, tinh thần hòa nhập vào cuộc sống, trong “Cư Trần Lạc Đạo Phú” Trần Nhân Tông đã nói lên tinh thần ấy:
Sống giữa phàm trần hãy tùy duyên mà vui với đạo,
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm kiếm
Đối diện với cảnh mà biết vô tâm thì không cần hỏi Thiền nữa”.
Một tư tưởng giải thoát, nghe qua có vẻ như bình thường mà con người ai cũng có thể làm được. Nhưng, phải chăng triết lý mà Trần Nhân Tông muốn nói ở đây là một triết lý sống, sống thực với cuộc đời, không chạy trốn, “hãy tùy duyên mà vui với đạo”, hòa nhập vào cuộc sống đời thường.
Không những dừng ở đây, mà các vua Trần còn tổ chức nên một nền giáo hội Phật giáo thống nhất từ triều đình cho đến nông thôn, không những lo kiện toàn các khoa thi Nho giáo để đào tạo các nhân tài, mà điều quan trọng là còn biết chuẩn bị nền tảng cho sự ra đời đội ngũ thượng lưu trí thức vừa giỏi Nho giáo vừa tinh thông cả Đạo giáo và Phật giáo, đáp ứng được mọi yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội, và cho cả cái nhu cầu vi diệu của tâm linh con người. Với chủ trương của triều đình Trần đã không nghĩ phải có sự đồng nhất chánh kiến, quan điểm mới đủ tiêu chuẩn. Đối với họ, chánh kiến cá nhân là một chuyện, mà trách nhiệm triều đình là một chuyện khác. Song, biết đâu các vua Trần đã dụng ý đưa một nhà Nho kích bác Phật giáo như Trương Hán Siêu đến hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng Phật giáo tại chùa Quỳnh Lâm, để nhờ đó mà thanh lọc bớt tư tưởng cực đoan vốn có nơi Ông. Nếu quả như vậy, thì dụng ý của vua nhà Trần đã đạt được một kết quả khả quan, trong vòng mấy năm cuối đời, tư tưởng Trương Hán Siêu dường như đã có chiều thay đổi:
“Đời lênh đênh trước khác nay
Thân nhàn mới biết trước này lầm to.”
Khuynh hướng tự do thoải mái ấy luôn nằm trong một chừng mực nhất định trong việc chuyển đổi quan niệm nhất nguyên chính thống thành sự hỗn dung, đa dạng về tư tưởng, đã giúp cho hiện tượng hội nhập văn hóa ở thời Trần. Từ mỗi con người cụ thể, mỗi địa bàn văn hóa cụ thể, cho đến đời sống cộng đồng nói chung đều diễn tiến nhanh chóng, thuận lợi, nhịp nhàng và sinh sắc hơn. Và đỉnh cao của sự hội nhập ấy là văn hóa ở chùa Quỳnh Lâm. Theo như tài liệu “Đạo Phật Ngày Nay”, (hiện tượng hội nhập văn hóa dưới thời Lý- Trần nhìn từ một trung tâm Phật giáo tiêu biểu, chùa Quỳnh Lâm) của Nguyễn Huệ Chi Viết:
Người thứ nhất đến với chùa Quỳnh Lâm không được chính thức ghi trong sách vở Thực Lục của nhà nước Đại Việt, nhưng lại được nhiều truyền thuyết nhân gian lưu lại, là một vị sư đời Lý: Không Lộ, tương truyền ông là người có công khơi dậy chùa Quỳnh Lâm vào giai đoạn đầu. Ngay tấm bia lớn trước sân chùa, tuy văn bản được khắc lại rất lủmg củng, vẫn còn dòng chữ xác nhận công lao của người này từng đúc nên pho tượng Di Lặc cao sáu trượng sáu tại chùa Quỳnh Lâm... Rất có thể là với Không Lộ hay còn sớm hơn thế, cũng đã bắt đầu hình thành lễ hội chùa Quỳnh Lâm, vì một lễ hội Phật giáo bao giờ cũng là thu hút tinh túy từ phong tục các lễ hội nhân gian thời cổ đại, mà dễ thấy nhất là triết lý phồn vinh, gắm gởi khát vọng sinh sôi nảy nở không ngừng của con người sống trên địa bàn trồng lúa, và cái cảm hứng thiên nhiên, thần thánh, trước vẻ đẹp bất tận của sự sinh thành. Một vài bài ca dao, thơ vịnh còn truyền tụng ở quanh chùa Quỳnh cho thấy Phật giáo đã không ngại tiếp thu cái phần phóng khoáng, cởi mở rất người ấy, trong các lễ hội phồn thực nhân gian, xen lẫn với nghi thức tôn giáo khiến cho lễ hội chùa Quỳnh Lâm có sức cuốn hút nam thanh nữ tú, gây được một tiếng vang động và được duy trì mãi đến gần đây:
“Nức tiếng Quỳnh Lâm khắp xứ Đông,
Ai qua không đứng lại mà trông.
Tháp cao chín đợt màu mây ám,
Chùa rộng trăm gian gác ngựa lồng.
Trước điện thông reo cùng trúc múa,
Trong am khánh đã với chuông đồng.
Vui tu Phật hóa vui vui nhỉ,
Chả trách ngày xưa gái lộn chồng.”
Với những lời thơ văn, truyện nhân gian còn giữ được xung quanh lễ hội chùa Quỳnh, quả thật có một lớp nền văn hóa bồi đắp nên bề dày đầu tiên của trung tâm Phật giáo Quỳnh Lâm cần được chúng ta chú ý: lớp nền văn hóa phônclo bản địa cổ truyền mà dòng Phật giáo nhân gian hóa từ rất xa xưa đã biết tiếp thu, thừa hưởng quá trọn vẹn.” (Tài liệu siêu tầm của Tố Như và Phạm Đức Huân).
Nhìn lại vấn đề chúng ta thấy, từ ngày lập quốc dân tộc ta đã trải qua nhiều cơn hoạn nạn, chủ yếu là ngoại xâm và thiên tai; tinh thần “đoàn kết, thương yêu dân” lúc nào cũng là phương châm hàng đầu để chống trả lại ngoại xâm và đối phó thiên tai, tỏ ra bức xúc và khẩn cấp. Phật giáo vào Việt Nam với tư tưởng bình đẳng và từ bi, rất thích hợp với lòng dân, tạo nên một xã hội đầy nhân phẩm và lòng từ cao độ, họ thương yêu lẫn nhau, đùm bọc lẫn nhau, bao gồm cả vua chúa, quan lại và cho đến người dân. Hội nghị Bô lão ở Diên Hồng (1285), hội nghị Vương hầu ở bến Bình Than (1282) là biểu hiện của tinh thần dân chủ và đoàn kết toàn dân và quân nhà Trần. Chủ thuyết “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là một chủ thuyết thật sự bình đẳng, nó giúp chúng ta hạn chế và xóa bỏ ranh giới đẳng cấp của xã hội phong kiến đời Trần.
Những chuyện như Trần Thái Tông tha tội chết cho Trần Liễu, mặc dù Trần Liễu mắc tội phản nghịch; Trần Nhân Tông vứt cái tráp đựng thư hàng giặc của một số quan lại nhà Trần, vì ông cho rằng đó là chuyện nhỏ không đáng quan tâm sau khi đại sự chiến thắng quân Nguyên- Mông (1258-1285-1288) đã thành. Chuyện vua tôi nhà Trần sum họp vui vẻ, nằm chung một giường, chuyện đội quân của Phạm Ngũ Lão được mệnh danh là đội quân cha con…. Tất cả những biểu tượng đó rất khác với tinh thần tôn ti trật tự, đẳng cấp của Nho giáo, trái lại rất gần gũi với tinh thần bình đẳng và phá chấp ngã của Phật giáo. Sự ảnh hưởng đó chính là nền tảng cho văn hóa Phật giáo phát triển rộng lớn và lâu dài ở nước ta.
Và, phải chăng là sự quan hệ giữa văn hóa Phật giáo với tư tưởng dân tộc có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời ra được. Quả thật, đây là một phương diện độc đáo có tính nghệ thuật cao, và cho ta với cái nhìn trong mối tương quan tương duyên mật thiết giữa văn hóa Phật giáo đời Trần với tư tưởng dân tộc, luôn là đỉnh cao của mọi thời đại.
Tóm lại, mối tương quan giữa văn hóa Phật giáo đời Trần với tư tưởng dân tộc luôn là ánh sáng soi chiếu cho từng thời đại, văn học Việt Nam. Không những mang đậm sắc thái với tầm vóc đặc sắc của một thời, mà còn cống hiến cho cả tiến trình dân tộc lâu dài. Phải chăng, cách ứng xử của Trúc Lâm Yên Tử cũng chính là cung cách ứng xử mang đậm nét văn hóa và truyền thống cha ông. Vậy thì hậu thế đâu cứ phải nhọc lòng trước sự suy thịnh, còn mất của một thời, mà chúng ta cũng nên biết: đánh mất văn hóa, đánh mất bản sắc là đánh mất chính mình, cũng chính là mất tất cả.
GIỮ MÃI THỜI GIAN
                        Thích Phước Duyên
Thời gian: Cuộc hội ngộ của chúng ta sắp khép lại, thời gian ơi! Sau tháng ngày còn lại, ngút ngàn buồn tê cuộc hội ngộ pháp lữ chúng ta đến rồi lại đi , hóa ra kiếp của định luật vô thường, đi tìm giá trị cho ngày mai, mà nơi đó sự buồn vui sợ hãi và chơi vơi.Moat cuộc đời là thế… vậy thử hỏi có bao nhiêu người biết sự âm thầm ra đi của thời gian, những những nỗi khổ niềm đau nó vẫn luôn đeo đẳng chúng ta.
Người chơi vơi, ta cũng chơi vơi rồi tắt lịm. Một ngày mới lại xuất hiện, ánh sáng vị tha, thong yêu đến từ long thông cảm, giúp chúng ta vượt lên từ áp lực, nỗi loạn, địa vị, quyền thế, ngôi vị phiêu lưu.
Gió vi vu, ngàn thông reo biến chuyễn tất cả, tan hoại theo sự sinh diệt dẫu biết ngàn trùng ngoài khơi là bể khổ của cuộc đời, như gả cùng tử tự đứng lean giữa phong ba sống gió cuộc đời.
Tuy nhiên thời gian vẫn giữ mãi cuộc đời in sâu vào những bước chân khờ dại hồi tưởng lại về trong bóng của thời gian. Cuộc chia tay với không gian sụt sùi khép lại, những ân tình còn ẩn chứa và khép lại. Nhưng tình cảm thân thương của tuổi học đường bất diệt với thời gian.
Khòa Khánh ơi! Những gì muốn chia sẽ và bao thâm tình sâu nặng giờ theo thời gian đã khép lại nhưng hình ảnh thân thương của bạn của trường của thầy cô của ngôi Chùa yêu dấu còn in dấu mãi trong long mỗi một giảng sinh chúng ta và in mãi làm kỷ niệm không phai mờ trong những trang kỷ yếu của lớp chúng ta.
 
 
ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC HOẰNG PHÁP
                                                                                    Thích Chiếu Khánh
 
Hoằng pháp là một vấn đề được nhắc đến rất nhiều trong Phật Giáo, là mot đề tài mà ngay từ những ngày đầu thành lập Tăng đoàn Đức Phật đã tuyên thuyết: “Này các Tỳ kheo! Hãy đi vì sự lợi lạc của nhiều người,vì sự hạnh phúc của số đông…,hãy đi mỗi người một ngả,hãy truyền bá chánh pháp…”. Đồng thời cũng là chuyện tốn không biết bao nhiêu giấy mực của những người có cái tâm vì Đạo Pháp.Nhưng xem ra những bước chuyễn mình của công tác này cũng chưa đi kịp với thời đại.Nếu như đứng ở mốc thời gian hiện tại nhìn về quá khứ thì có thể vừa lòng với những gì mà ngành Hoằng Pháp Phật Giáo Việt Nam đã có được,còn như nhìn rộng ra với những vận hội mới của Đất nước thì công tác Hoằng Pháp của chúng ta vẫn chưa đi kịp với nhịp phát triển của xã hội.Đây không phải là nhận định bi quan,mà có cơ sở rất rõ ràng.
 
 
 
                                    

 
 
 

                                                                                   
 
 
 

 
 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 29 Tháng 1 2010 09:51