Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

CẢM NGHĨ (KỶ YẾU LỚP CCGS KHÓA IV - PHẦN II: MÁI TRƯỜNG LƯU DẤU)

Thứ sáu, 29 Tháng 1 2010 10:12 Hiếu Thảo
In PDF.
 CẢM NGHĨ
                                                       Thích Phước Hòa
 
Dòng thời gian vẫn lặng lẽ qua đi, biết bao sự thăng trầm đổi thay đến với đời Tăng sĩ. Những ước mơ cháy bỏng tình người, bao tâm nguyện thiết tha sắp trở thành hiện thực vẫn còn đâu đây.

Đó là lý tưởng thánh thiện “Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh”. Khóa học lớp giảng sư đã chuyển dần đến ngày ra trường, Tăng Ni sinh không chỉ được phước duyên thọ hưởng tinh hoa tri thức nhân loại từ chư Tôn Đức giáo thọ sư, mà còn được nhận lãnh cả thánh tài vô giá, cũng như những kinh nghiệm, vốn sống của Quí Ngài truyền trao. Đây chính là hành trang quí báu, góp phần thành công cho mỗi Tăng thân. Nhờ có sự chở che, chỉ dạy tận tình của Chư Tôn Đức mà tự bản thân mỗi người phải luôn luôn nỗ lực không ngừng trước bóng quang âm thấp thoáng.

Hoằng dương chánh pháp là một sứ mạng vô cùng thiêng liêng và cao quí, cho nên điều kiện tất yếu là mỗi Tăng Ni giảng sinh sau khi học lý rồi phải quán chiếu và thực hành, lộ trình phục vụ tha nhân không phải là đại lộ đầy hoa thơm cỏ lạ mà còn biết bao vất vả, nhọc nhằn, nhất là trong thời đại hôm nay-thời đại kỷ nguyên của tri thức, nền khoa học kỹ thuật phát triển tới đỉnh cao, đời sống vật chất đầy đủ, đời sống đạo đức, tinh thần đã phần nào bị xem nhẹ đi.Vì vậy, Tăng ni trẻ dù đầy nhiệt huyết muốn đem đạo vào đời cũng không phải là dễ, vì chưa có kinh nghiệm. Hơn nữa, chỉ học thôi không phải là đã đủ mà tâm Bồ Đề phải luôn luôn được trưởng dưỡng, thì mới có thể dùng muôn vàn phương tiện khéo léo đưa chánh pháp vào đời mà không bị thế tục hóa.
Đồng thời, Đại Bi tâm cũng phải thể hiện một cách thiết thực trong đời sống thường nhật, như trải rộng cõi lòng đến bao mảnh đời bất hạnh, giúp đỡ trẻ em cơ nhỡ, lang thang bụi đời . Trong sự nghiệp hoằng pháp Tăng Ni giảng sinh đòi hỏi phải hạnh giải tương cùng, lời nói và hành động nhất quán, thì việc thuyết giảng mới đi sâu vào lòng người, chứng tỏ Đạo Phật là cần thiết cho cuộc đời. Xuyên suốt dòng lịch sử Phật giáo, bất cứ khi nào xuất hiện các vị Tổ sư, cao Tăng tiền bối với Trí Đức song vận thì đạo Phật vô cùng hưng thạnh, và tầm ảnh hưởng đến xã hội, quần chúng nhân dân là rất lớn. Như vậy, bất luận thời đại nào thì Đức hạnh đóng một vai trò rất quan trọng để chinh phục nhân tâm. Ở đâu có đạo đức thì ở đó có hạnh phúc và ngược lại.
Mai đây mỗi người Tăng sĩ chúng ta trở vể trụ sở của mình, bằng chí nguyện sắc son chúng ta hãy dấn thân vào cuộc đời đóng góp công hạnh nhỏ bé của mình, ngõ hầu đền đáp Tứ Ân trong muôn một.
Rời xa mái chùa Hòa Khánh, Tăng Ni giảng sinh chúng ta không tránh khỏi bùi ngùi xúc động, dư âm kỷ niệm vui buồn vẫn còn đọng lại. Dù cho năm tháng có phôi phai nhạt nhòa, dù những cánh chim non lúc rời xa tổ ấm vẫn hân hoan tung bay giữa trời xanh lộng gió. Nhưng tình thầy nghĩa bạn vẫn mãi chẳng phai nhòa. Bay cao, bay xa là khát vọng vươn lên, là sự nỗ lực để lợi lạc quần sanh, làm cho sự sống mầu nhiệm càng có ý nghĩa hơn nữa, vì “Sống là cho đi đâu chỉ nhận riêng mình
Giới thiệu về tổ sư thiền
                                                                      Thích Giác Tân
 
   Thiền là một phương pháp tu hành chủ yếu của nhà Phật. Khi đức Phật Thích Ca còn tại thế, đệ tử của Ngài đều lấy việc hành thiền làm cơ bản. Phương pháp hành thiền này đều nương theo các kinh, luật và luận đã thuyết như thiền Quán niệm hơi thở, thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Na Ba La Mật v.v… Tu các pháp thiền này được chứng nhập tuần tự theo thứ bậc, tuỳ theo trình độ và thời gian hành trì của hành giả. Loại thiền này được gọi là Như Lai Thiền. Còn Tổ Sư Thiền thì ngược lại không có thứ bậc, là pháp trực tiếp chỉ thẳng vào bản thể chân tánh.
 
   Được biết Tổ Sư Thiền bắt đầu từ Phật Thích Ca truyền lại cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, đến ngài A Nan rồi truyền tới Tổ thứ 28 là ngài Bồ Đề Đạt Ma được tôn làm sơ tổ Thiền Tông Trung Hoa, truyền cho Nhị tổ Huệ Khả, Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Quy Ngưỡng và Vân Môn.
 
    Mỗi phái đều có phương tiện cơ xảo riêng để khế hợp với từng cơ duyên của đệ tử. Tuỳ mỗi đương cơ mà chư Tổ, hoặc nói, hoặc nín, hoặc dùng gậy đánh hay dùng tiếng la, tiếng hét v.v. . . Các phương tiện cơ xảo ấy giống như chuyện vô lý nhưng lại có tác dụng làm ngưng suối nguồn ý thức của người đệ tử lúc bấy giờ. Mục đích là đệ tử ngay sát na đó khai ngộ. Các Ngài không muốn đệ tử sa lầy trong văn tự chữ ngghĩa, chỉ cần ngưng dòng tâm ý thức để trực thấy bản tâm, bản tánh của mình. Do đó một người khi nhập môn dòng thiền Lâm Tế liền bị tiếng la hết hay khi nhập môn dòng thiền Đức Sơn liền bị đánh v v… là vậy, người tham thiền thời đó cảm thấy thích hợp với cơ xảo nào thì đến phái đó theo học. Tuy khác nhau ở cơ xảo nhưng sự ngộ chẳng khác.
 
    Lâm Tế và Tào Động là hai phái thiền Tổ Sư còn tồn tại truyền qua Việt Nam, Cao Ly, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
 
    Ngày nay, khi nói đến Tổ Sư Thiền người la lập tức nghĩ tới việc tham công án và nghĩ rằng tham công án cũng tương tự như khán thoại đầu, thật ra công án và thoại đầu có khác nhau mặc dầu mục đích không khác nhau. Đa số các công án có chuyện tích phức tạp, thí dụ công án Vô của Thiền sư Triệu Châu. Một ông tăng hỏi hoà thượng Triệu Châu “con chó có Phật tánh không?” sư đáp “Không”. Vị khác hỏi “con chó có Phật tánh không?” sư đáp “Có” với người kia?! Tại sao các loài hữu tình chúng sanh đều có Phật tánh mà hoà thượng Triệu Châu lại nói không nếu không thì ý Ngài ở đâu, thắc mắc không biết vv. . . Còn khán thoại đầu, đơn giản hơn, không có chuyện tích phức tạp như thế mà chỉ là câu hỏi. Ví dụ như câu “Niệm Phật là ai?. Hay, “trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao?”
 
        Mục đích của tu Tổ Sư Thiền là làm ngưng lại dòng tâm ý thức (thường lưu) trôi chảy liên tục trong tâm con người từ thời vô thuỷ. Chư Tổ sư dùng cơ xảo để làm cho đương cơ bật ngược lại, vượt qua bức màn vô minh từ vô thuỷ, vượt qua luôn bờ bên kia của vô thuỷ vô minh, hoàn toàn giác ngộ, như vàng đã tôi luyện, loại bỏ hết tạp chất.
 
Bản thể chân tâm của chúng ta vốn thanh tịnh, nhưng vì một niệm bất giác, tức nhất niệm sinh khởi, nên sinh ra ý thức phân biệt, gây thành có ta, có cái không phải ta, sinh ra đối đãi, từ đó lòng tâm ý thức tham sân si dấy lên, ngày càng dày đặc, càng trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi tạo nghiệp trả quả, vay trả không ngừng. Nay muốn trở về cội nguồn thì phải dừng được dòng tâm ý thức, nghĩa là dừng lại những tạo tác của ý thức thường nghiệm, luồng tư tưởng những ý niệm và nhận thức.
 
       Thoạt kỳ thuỷ, chưa có công án, mà chỉ là cơ xảo của chư Tổ, tuỳ theo căn cơ của người đối diện mà tháo gỡ vướng mắc đã khiến họ kẹt cứng, không hội nhập lại bản thể được, thí dụ như Lục Tổ Huệ Năng hỏi Thượng toạ Huệ Minh.
 
       Nghe câu đó thượng toạ Minh ngơ ngác, trong một sát na dòng tâm ý thức bị khựng lại, bản thể hiện lộ lập tức. Những thí dụ như trong một ngàn bảy trăm công án đều là những câu vấn đáp của chư Tổ, chính là để đương cơ “khựng ngay dòng ý thức lại”. Mỗi vị đều có những câu khác nhau, tùy theo nhận xét của thầy mà đưa câu hỏi cho trò.
 
      Người sau thấy những câu hỏi đáp đó đã giúp khai ngộ cho đệ tử, bèn thu thập lại, rồi đề ra cho người tới xin tu, cho họ một câu gọi là “một tắc công án” hoặc là thoại đầu để họ tự hỏi hoài, thành ra một nỗi thắc mắc nhân tạo, coi như dụng cụ để giúp người tu thiền có thể ngưng đọng tâm tư tạo được khối nghi, chờ một ngày kia có cơ duyên, khối nghi bùng vỡ là Ngộ.
 
      Càng về sau, tâm tư con người càng phức tạp, biện luận càng nhiều. Người tu dùng công án nhà Thiền biến thành công cụ để bình luận văn thơ, đã không giúp cho dòng ý thức ngưng, còn khai triển ra đủ loại tư tưởng đối nghịch, biến thành trò chơi chữ nghĩa. Trong trường hợp đó công án không còn phục vụ sứ mạng tạo nghi tình, lại lấp bít con đường đi tới giác ngộ chân chính, và cũng bởi do Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời thời điểm này, nghi chép tất cả các diệu thuật, công án của chư Tổ, khiến người tham thiền biết hết kỹ thuật của Tổ nên không phát khởi nghi tình. Do đó, chư Tổ mới bất đắc dĩ chế ra pháp “chiếu cố thoại đầu” hay còn gọi “khán thoại đầu” chiếu cố thoại đầu có từ đó
Như vậy chiếu cố thoại đầu là gì?Thoại là lời nói và đầu là đầu tiên. “Thoại đầu” là “phía trước, truớc khi có câu nói”. Nếu đã nói ra, dù chỉ một chữ, thì hết là “đầu”, mà chỉ còn là “thoại vĩ” là câu nói mất rồi. Cho nên, không có “câu thoại đầu” mà chỉ có “phía đầu của câu thoại” cho nên phải có chữ “chiếu cố”, chiếu cố thoại đầu, tức là “khán chiếu về phía trước của câu nói” là chưa có một ý niệm sanh ra.
 
     Trước câu nói là gì? Dĩ nhiên câu nói (thoại) phải là hậu quả của một dòng ý thức trước khi tuôn ra thành lời. Nhưng dòng ý thức khi thành lời đó ở đâu? Là cái gì? Sự thắc mắc ấy chính là nghi tình. Nghi tình này không thành lời đó ở đâu? Là cái gì? Sự thắc mác ấy chính là nghi tình. Nghi tình này không có đáp án, không thể dùng tâm ý thức giải đáp huyên thuyên, dù có muồn, vì nó không có câu chuyện có đầu có đuôi như công án. Miên mật trong khối nghi này tức là hành giả đã vượt qua nhất niệm vô minh, đang ở trong vô thuỷ vô minh, tức là đang trên “đầu sào trăm thước”. sau đó sẽ là “bước thêm một bước: là nghi tình bùng vỡ, là buớc vào nơi mà chư tổ gọi là “bước đi đến địa kia” (gọi là “đất” là “bước”, chỉ là hình thức hoá cho dễ hiểu trong ngôn từ, thật ra thì tất cả chỉ là chuyển hoá tâm thức, không có cụ thể thành vật chất được nói ra đã là dùng tương đối, cách xa mất rồi). Bước này mau chậm tuỳ theo cơ duyên, có người ôm khối nghi tình nhiều năm, có ngừoi ngắn hơn. Cơ duyên khiến cho nghi tình bùng vỡ, là “bước thêm một bước” có thể là tiếng viên sỏi chạm vào cây tre, hoặc là tiếng vỡ của cái chén rơi, tiếng chuông chùa, câu nói vô nghĩa v v… cũng có thể ngộ được.
 
       Chiếu Cố Thoại Đầu bắt đầu từ đời nhà Tống bên Trung Hoa, không rõ truyền qua Việt Nam vào năm nào. Sau năm 1975 có một vị Sư người Việt gốc Hoa truyền pháp môn này tại Việt Nam, rồi sau đó truyền qua Úc, Canada và Hoa Kỳ theo vết chân di cư của chính là Thiền Sư Thích Duy Lực cùng những Phật tử Việt Nam và Phật tử Việt gốc Hoa. Vị sư này là cố hoà thượng Thích Duy Lực.
Hiện nay tại Việt Nam pháp môn này đang được truyền dạy tại các chùa Phật Đà, Liên Hoà, Giác Nguyên (TP. HCM). Tam Bảo (Nha Mân, Sa Đéc) Liễu Quán. (Núi Dinh, Vũng Tàu). Riêng tại Hoa kỳ, Từ Ân Thiền Đường, ngôi thiền đường duy nhất hoằng truyền Tổ Sư Thiền ở hải ngoại được chính cố hoà thương Thích Duy Lực thiết lập và hiện tại được điều hành bởi một Ban Trị Sự Tông môn Tổ Sư Thiền, chư Tôn Thiền Đức và các cư sĩ môn người Việt và người Việt gốc Hoa đang duy trì Phát triển pháp môn này.

ĐỘC THỌ HOA KHAI VẠN THỌ HƯƠNG     
                                                                             Thích Nữ Huệ Hòa
Đức Phật là một vị đạo sư nổi tiếng, nhà truyền giáo cao siêu, đầu tiên bậc Thầy của nhân loại giúp đuốc sáng, cầm tay chỉ lối cứu bát vạn loài. Sự ra đi tìm đạo và chứng đạo của Ngài đã xóa bỏ bao bất công của Xã Hội Ấn Độ lúc bấy giờ, phương pháp giáo hóa của Ngài nhiếp phục bọn ngoại đạo tà giáo, mọi tầng lớp Vua Quan cho đến thứ dân, từ hàng thượng lưu trí thức cho đến hạng người bần cùng hèn hạ, cảm hóa người cực ác trở thành thành thiện… mà không bao giờ dùng đến bạo lực, chỉ dùng lòng từ bi trí tuệ. Giáo pháp ấy được Đức Phật giảng dạy bằng vô số phương tiện ngôn ngữ, đã được các vị thánh Tăng kết tập lại thành Tam Tạng kinh điển và hiện nay đội ngũ Tăng Ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo các nước nói chung. Đã và đang kế thừa phát huy truyền thống ấy.
Hoằng pháp vi gia vụ,
Lợi sanh vi bổn hoài.”
Nói đến đây con không khỏi ngậm ngùi, cũng đồng là con cháu, họ Thích của các Ngài, mà đã hơn mười năm học Phật. Từ Sơ, Trung, Cao con chẳng làm được gì để đóng góp cùng giáo hội, cũng như kế thừa sự nghiệp hoằng pháp ở tương lai.
Vì vậy, con xin viết một đề tài nhỏ trên, để góp một phần trong kỷ yếu, hằng luôn luôn tỉnh nhớ. Khắc cốt ghi tâm, Hình ảnh cao cả của các Ngài đã vì sự nghiệp hoằng pháp mà cống hiến đời mình cho sự nghiệp lợi tha.
“Kính lạy Tăng người thừa chí cả
Thay Thế Tôn truyền bá đạo mầu
Tùy duyên hóa độ vô cầu
Làm Thầy hướng dẫn nhơn thiên thoát nàn.”
Ý nghĩa cao quý muôn đời không phai ấy, không một bút mực nào diễn tả cho hết ở đây con tạm tán thán bằng một câu kệ mà con đã được nghe người người truyền miệng Ca Tụng bằng âm Chữ Hán như sau:
“Độc thọ hoa khai, vạn thọ hương”
Tạm giải thích: hàng vạn loài hoa, mà chỉ duy nhất có một bông hoa khoe sắc tỏa hương làm cho các bông hoa khác thơm lây, Hương thơm bát ngát tinh khiết ấy chính là hình ảnh tận tụy yêu thương của các bậc lãnh đạo trong Giáo Hội Phật giáo chúng ta, đã mở ra các trường Phật học từ thành đến tỉnh đào tạo những Tăng Ni trẻ từ thế hệ này đến thế hệ kia, mà không biết nhàm mỏi, miễn sao có những đứa con ngoan trò giỏi kế thừa mạng mạch “Truyền đăng tục diệm, hành trì chánh pháp và tuyên dương chánh pháp” Giáo Hội chỉ có một, mà những đứa con của Giáo hội thì vạn… ngàn…
Trên đây chính là nổi lo lắng boăn khoăn, ưu tư trăn trở của Giáo hội, đang kỳ vọng lớp trẻ ở tương lai. Việc đáng mừng xã hội hiện nay trên đà phát triển đó là điều kiện thuận lợi để chúng ta tiến đạo và hành đạo được dễ dàng. Nhưng bên cạnh đó ta cũng gặp không ít những điều vất vả khó khăn trong việc nhấn thân hoằng pháp vì đạo đức bị suy đồi nghiêm trọng. Phương diện giáo dục đòi hỏi những giảng sinh trẻ phải có trình độ, thật học, thật tu, thiết thực chất lượng đã trải qua trên 25 thế kỷ Phật giáo vẫn được lịch sử công nhận, là một Tôn giáo mang tính đặc thù của mỗi dân tộc, phải chăng nhờ sự truyền thừa và duy trì chánh pháp chơn chánh tài ba của các nhà truyền giáo. Điều này đã cho thấy Tăng Ni trẻ hôm nay chính là những thành viên quan trọng, những giảng sư tương lai của giáo hội, phải có tinh thần cao độ, nhiệt tình, nhiệt quyết để tiếp bước cha ông đòi hỏi tiêu chuẩn ở mỗi vị phải phạm hạnh, vị tha, đạo đức, uyên thâm giáo lý Phật đà, am hiểu cộng đồng xã hội, có như vậy thì sự tiếp nối truyền thừa lời Phật dạy sẽ không bị mai một theo năm tháng thời gian. Hoà Thượng Trưởng Ban hoằng pháp thường nói: “Mỗi tự thân có trang nghiêm thì giáo hội mới trang nghiêm thanh tịnh được, vì nếp sống phạm hạnh của tự thân, là làm thắp sáng thêm ngọn đèn chánh pháp. Xã hội không nhìn chúng ta qua sách Phật, tượng Phật xa xăm nào mà nhìn chúng ta qua con người cụ thể”
Thiền sư Phù Vân có lần khai thị Vua Trần Thái Tông một câu nói vô cùng bình dị nhưng diễn tả được cốt tủy của đạo Phật “Trong núi vốn không có Phật” Vị thủ tướng Trần Thủ Độ muốn vua trở về trị quốc qua hai quan niệm:
Xuất thế để giải thoát tâm linh
Nhập thế để phụng sự cuộc đời”
Đức Phật chúng ta là vị Lương Y tài giỏi mà tùy bệnh cho thuốc, hơn 49 năm thuyết pháp nói trên 300 hội, gồm 48.000 pháp môn tại hội Linh Sơn, đức Phật giơ cánh hoa, ngài Ca Diếp tỏ ngộ mĩm cười, giai thoại đẹp của các vị Thánh Tăng thời Đức Phật còn tại thế cũng như nhập Niết Bàn, các Ngài đã lãnh hội giáo pháp và truyền bá giáo pháp một cách trọn vẹn.
Thiện ý của đạo Phật là phụng sự con người phải thể hiện tính linh hoạt của Phật pháp, để đúc ra những việc không khế hợp, nhiếp hóa những con người mới, với sinh hoạt, kinh tế, tôn giáo, chính trị, văn hóa…, đầy văn minh, không còn giống gì với xã hội cách đây hàng trăm năm trước. Vì thế, chúng ta phải sống và truyền bá đạo pháp thế nào phù hợp theo phương châm “đẹp đạo tốt đời”
Kiến thức nào hay chớ ẩn im
Cùng nhau phân giải được hay thêm
Một người thuyết muôn người thính
Một kẻ viết bài tất cả xem”
Nhân cách giáo hóa truyền tải pháp Phật là sự quan hệ mật thiết giữa người và người, chữ giải thoát trong Phật pháp không chỉ hạn cuộc trong phạm vi tiêu cực, tiến hóa cải đổi, hoán chuyển theo mọi tầng lớp xã hội, với gói hành trang nặng quoằn vai Tăng Lữ chúng ta nghĩ gì, làm gì trước hương vị giải thoát của Giáo Hội Phật Giáo ngày mai, chẳng lẽ để đời khen suông trong loài hoa còn lại. Ngoài một bông hoa thơm ấy. Đại tạng kinh Việt Nam có đoạn nói:Một hôm Đức Phật hỏi các Tỳ kheo lá trong bàn tay của Như Lai so với các lá trong rừng nhiều hơn hay ít hơn, các vị Tỳ kheo trả lời, Bạnh Thế Tôn lá trong rừng nhiều hơn, Đức Thế Tôn nói, đối với giáo pháp mà Như Lai đã nói, giống như những chiếc lá trong tay, còn những sự hiểu biết của Như Lai chưa nói hết chẳng khác nào như những chiếc lá xanh thẩm ở trong rừng còn lại kia”.
Cũng vậy, các Vị trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ta hiện nay, những gì mà các Ngài nói, chẳng khác nào như những chiếc lá trên tay, còn những chiếc lá trong rừng các Ngài chưa nói và chưa làm hết. Đó phải chăng là một Bức Thông Điệp cụ thể hóa cho một bông hoa khoe sắc tỏa mùi, mà vạn bông hoa khác được thơm.
Như trên bước đường giải thoát, “Phục vụ chúng sanh là cúng dường Chư Phật.” Chúng ta không thể thụ động buông xuôi như bao người thường tình khác, mà giáo pháp Đức Phật có tồn tại, Giáo Hội có vững mạnh hay không là do những con người đào tạo gương mẫu ở tương lai, dám xa lìa, xả bỏ lợi ích riêng mình thiết tha vì đạo pháp, giữ vững giềng mối “Tre tàn, măng mọc xưa nay.”
Có như thế thì ngôi nhà Phật giáo nói chung, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng sẽ trường tồn bất diệt giữa thời gian.
Như kinh Pháp Hoa nói:
“Ngã vị nhứt đại sự nhân duyên
Xuất hiện ư thế khai thị chúng sanh
Ngộ nhập Phật tri kiến”
 
 
 
 
 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 29 Tháng 1 2010 10:25