Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

THAM LUẬN BAN HOẰNG PHÁP TỈNH HỘI PHẬT GIÁO BẾN TRE

Thứ ba, 13 Tháng 4 2010 01:41 Hiếu Thảo
In PDF.

VÀI VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý

TRONG CÔNG TÁC HOẰNG PHÁP HIỆN NAY

 Kính bái bạch: Chư tôn Giáo phẩm Hội đồng Chứng minh – Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN – Ban Trị sự các Tỉnh/Thành hội – Ban Đại diện Phật giáo các huyện thị trong cả nước.

 

 

Kính bái bạch:

Chư tôn Hòa thượng – Thượng tọa – Đại đức Tăng Ni.

Kính thưa: Ban tổ chức hội thảo và qúi đại biểu hiện diện trong hội thảo.

 

Hôm nay Ban Hoằng pháp Tỉnh hội Phật giáo Bến Tre hân hạnh được sự cho phép của ban tổ chức trình bày ý kiến của mình trong ngày hội thảo, bồi dưỡng hoằng pháp BHP Trung ương GHPGVN. Được sự phân công của BHP Tỉnh hội Phật giáo Bến Tre, con xin đọc Tham luận của BHP Tỉnh hội Phật giáo Bến Tre trước hội thảo. Lời nói đầu tiên chúng con thành kính vấn an sức khỏe

 

Chư tôn giáo phẩm lãnh đạo các cấp giáo hội, và gởi đến toàn thể qúi đại biểu lời cầu chúc tốt đẹp, an lành nhất. Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch chư tôn thiền đức. Kính thưa qúi đại biểu ! Với thời gian có hạn con xin đi thẳng vào hai vấn đề chúng con muốn trình bày như sau :

1. Vài nhận xét một số lãnh vực sinh hoạt Phật sự hiện nay :

2. Những kiến nghị cụ thể.

 

 

I. Vài nhận xét một số lãnh vực sinh hoạt Phật sự hiện nay :

 

 

1. Đối với Tự viện, đồng bào Phật tử, và quần chúng nhân dân.

Trong những thập niên gần đây, Phật giáo dưới sự lãnh đạo của Giáo hội thực hiện phương châm thống nhất ý chí và hành động trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, phát huy những mặt tích cực và loại bỏ những mặt còn hạn chế cho nên Phật giáo đã có sự phát triển mạnh mẽ ở khắp mọi miền đất nước, các đạo tràng tu học Phật pháp lần lược ra đời; các loại báo chí, tập văn Phật giáo cũng được hình thành và phát triển trong niềm hân hoan và đón nhận của Tăng Ni Phật tử trong và ngoài nước, Những thành tựu to lớn đó là nhờ sự lãnh đạo của Giáo hội, cùng với sự nỗ lực chung của chư tôn đức Tăng Ni các ban ngành viện, trụ trì các cơ sở Giáo hội.

Thế nhưng bên cạnh những tiến triển đáng mừng, Phật giáo vẫn còn một số lãnh vực khiếm khuyết do chủ quan và khách quan mà mỗi người con Phật chúng ta không thể không quan tâm như :

a. Về mặt quần chúng nhân dân, đồng bào Phật tử :

Phần đông giới trẻ do ảnh hưởng những văn hóa kích thích tâm sinh lý mới lạ đã lao theo những cuộc vui thế tục ít khi đi chùa và tu học Phật pháp. Ngược lại những người đi chùa thường là những người lớn tuổi, Trong họ đa số là những người đã mõi mệt trước bao cảnh trớ trêu, giả dối, khốn khổ của cuộc đời. Họ đi chùa để tìm sự bình ổn, sự an lành trong lòng.

Một số đông quần chúng theo đạo Phật bằng tín ngưỡng, họ đi chùa lễ Phật, cầu nguyện như một nhu cầu quen thuộc hay để thỏa mãn một ước vọng thầm kín nào đó. Người tri thức ngại đến chùa vì họ sợ bị lạc lỏng bơ vơ giữa biển người chỉ biết cầu nguyện, tin tưởng vào thần quyền, hoặc vì sự hiếu kỳ vui đẹp.

b. Đối với từng cơ sở Tự viện.

Mặt dầu hiện nay ngành hoằng pháp rất phát triển nhưng chưa rộng khắp các cơ sở tự viện của Giáo hội, còn rất nhiều và rất nhiều những tự viện, đồng bào Phật tử địa phương không hề nghe Tăng Ni thuyết giảng Phật pháp đâu là thiện, đây là là ác, đây là nhân, đây là qủa, đây là chánh đây là tà, đây là đúng đây là sai, làm thế là an vui làm thế là khổ đau v.v… để dẫn dắt Phật tử tu học mà chỉ làm việc cầu an, cầu siêu, chẩn mạch bốc thuốc, nuôi trẻ mồ côi, Nuôi người già, xin tiền cho chỗ này giúp chỗ kia. Có những vị Tăng Ni không ngần ngại nói rằng: “Tu hành làm từ thiện là chính, các việc khác là phụ”. Thậm chí vị Tăng Ni trụ trì lao vào công việc không còn thời gian để tụng kinh tọa thiền.

Nhìn từ khía cạnh khách quan phần nhiều cơ sở tự viện của Phật giáo nhứt là chùa ở thôn quê không còn là nơi Tịnh tu chuyển hoá thân tâm, hướng dẫn con người đến an vui giải thoát, làm thánh, làm hiền, làm tiên, làm Phật, làm một vị lương y tinh thần, làm nơi khai hóa tâm linh, mà Chùa là nơi dành cho người già, thậm chí là nơi dưỡng lão, là nơi từ thiện nhơn đạo, hoặc là nơi dành để cầu an, cầu siêu v.v…

2. Đối với Tăng Ni.

Hiện nay, quần chúng nhân dân đến với Phật giáo bị xúc giảm, Phật tử mất dần tín tâm đối với Tăng Ni, khi nhìn thấy một số Tăng Ni trẻ sống xa hoa, phô trương không khác gì những người chơi sành điệu ở xã hội.

Có những vị Tăng Ni trẻ có nhiệt quyết, có năng khiếu thuyết pháp nhưng không được tu hành nghiêm chỉnh nơi tự viện, không được học tập hẳn hoi trong các trường lớp đào tạo của giáo hội, nên sự ngôn hạnh hoang sơ, hiểu biết nông cạn, những vị này đã tổ chức thuyết giảng bất hợp pháp, truyền bá những tư tưởng, quan điểm trái ngược lại tinh thần Phật pháp, trái lại phương châm, tiêu chí của Giáo hội, trái lại chủ trương chính sách của nhà nước làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cấp tổ chức Giáo hội.

Nước Việt Nam có đến 54 dân tộc cùng sinh sống, đại đa số các dân tộc sống ở những vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Những năm gần đây các tôn giáo bạn quan tâm rất nhiều đến việc truyền đạo đối với bộ phận dân tộc này, có những giáo sĩ trẻ của họ tình nguyện hiến trọn cuộc đời thanh xuân của mình để mang Tôn giáo của họ đến nơi xa xôi, hẻo lánh thông qua phương pháp viện trợ kinh tế, khuyến khích cải đạo. Trong khi đó đa số Tăng Ni trẻ của Phật giáo, những vị có điều kiện theo học các trường Phật học ở những thành phố lớn, sau khi học xong dù không làm gì nhưng vẫn bám trụ lại thành phố, không ý thức được rằng chính những vùng đất khó khăn, xa xôi ấy là những miền đất lành để đem tài năng của mình ra thi thố, thậm chí có những vị khi học xong không gắn bó với các cấp giáo hội, không phát tâm làm Phật sự mà cứ trách rằng: “học xong không việc làm, không ai dòm ngó, không ai phân công hay bổ nhiệm gì cả !”

Có những vị Tăng Ni trẻ có trí thức, có năng khiếu thuyết giảng, được đào tạo hẳn hòi trong các trường lớp đào tạo của Giáo hội, nhưng họ lại ỷ vào tài năng của mình, không phục tùng các cấp tổ chức giáo hội, tự sinh hoạt riêng lẻ, tổ chức thuyết giảng bất hợp pháp, truyền bá những quan điểm, tư tưởng làm phương hại đến thanh danh các vị lãnh đạo các cấp Giáo hội.

Có những vị Tăng Ni trẻ có nhiệt huyết, hăng hái trong công việc, nhưng lại cái thấy chưa xa, cái hiểu chưa thấu đáo, cứ lao vào trong công việc nhưng không theo nguyên tắc, không tuân thủ tổ chức, không tôn trọng lãnh đạo, đã gây không ít thất bại và khó khăn cho các cấp lãnh đạo, quản lý ở địa phương, tạo nhiều kẻ hở cho những phần tử không tốt lợi dụng gây ảnh hưởng xấu đến Phật sự địa phương.

3. Đối với lãnh đạo Giáo hội.

Trong các trường lớp đào tạo của Giáo hội từ ngành Giáo dục Tăng Ni, Hoằng Pháp, cho đến Hướng dẫn Phật tử, chưa có một giáo trình Phật học thống nhất, nên mỗi Tăng Ni đã được Giáo hội đào tạo khi thuyết giảng từ ngữ, nội dung đề giảng không thống nhất với nhau gây cho Phật tử, người nghe sự hoang man, nghi ngờ, khen chê, so sánh v.v…

Một số Tăng Ni khi theo học các trường lớp đào tạo của Giáo hội, không được sự quản lý chặc chẽ của Các vị tôn túc lãnh đạo, nên khi ra trường làm Phật sự, tuy có học vị, có trí thức nhưng ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, việc làm thô tháo gây mất tín tâm của đồng bào Phật tử, và làm trái mắt nghịch lòng quần chúng nhân dân.

II. Những kiến nghị cụ thể.

Để khắc phục những điều đã trình bày. Chúng con xin kiến nghị hai điểm như sau :

1. Đối với lãnh đạo Giáo hội :

a. Đào tạo con người Hoằng pháp :

Ban Hoằng pháp Khi đào tạo đội ngũ Giảng sư kế thừa phải đào tạo cả trí thức và phạm hạnh. Khi đào tạo Giảng sư ngoài triển khai rốt ráo Kinh, Luật, Luận, Ban tổ chức còn có một kỷ luật nghiêm khắc đối với các vị Giảng sinh thiếu khuyết về phẩm hạnh. Giảng sư có thể không học hết Kinh, Luật, Luận. nhưng không thể phạm hạnh thiếu khuyết. Bởi vì thân giáo là một bài pháp quan trọng để Phật tử nương theo tu học.

Khi đào tạo đội ngũ Giảng sư cần phải triển khai về Luật pháp của Nhà nước và Hiến chương, Nội qui của Giáo hội. Để khi ra trường vị tân giảng sư này không nói năng, suy nghĩ, hành động sai với những quy định của đạo của đời, gây phương hại đến đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội.

Ban Hoằng pháp Trung ương khuyến khích, chỉ đạo cho các Tăng Ni Giảng sinh đã tốt nghiệp, phát tâm dấn thân hoằng pháp đến những vùng sâu, vùng cao, vùng xa.

b. Củng cố tổ chức :

Ban Hoằng Pháp Trung ương kết hợp với Ban Giáo dục Tăng Ni, Ban Hướng dẫn Phật tử, thành lập một ban biên soạn, nhanh chóng biên soạn giáo trình, những kiến thức cơ bản trong giáo trình được thống nhất, đưa vào giảng dạy tại các trường lớp đào tạo của Giáo hội.

Ban Hoằng pháp Trung ương khi cử Đoàn Giảng sư đến một địa phương nào thuyết giảng, trước phải chỉ đạo vị trụ trì trú xứ đó hoặc cử đại biểu đến địa phương đó liên hệ với Chính quyền địa phương và Ban Hoằng pháp Tỉnh hội nơi đó trước, vừa thể hiện tính tổ chức chặt chẽ, vừa thể hiện sự gắn bó giữa Trung ương với địa phương và cũng để tránh những trường hợp không đáng có xảy ra.

Ban Hoằng pháp Trung ương có quy định cụ thể gởi về các địa phương “không chấp nhận những vị Tăng Ni chưa được Giáo hội đào tạo, hoặc những Tăng Ni hoạt động riêng lẻ ngoài tổ chức Giáo hội, tổ chức thuyết giảng”. 

Hiện nay, có một số địa phương tập trung quá nhiều Giảng sư, nhưng có nơi qúa ít Giảng sư tạo nên sự mất thăng bằng. Do đó, Ban Hoằng pháp Trung Ương cần khuyến khích và phân bổ các vị Tân giảng sư đến cư trú tại các địa phương lượng giảng sư còn ít. Để công tác hoằng pháp nơi này được phát triển đồng bộ với những nơi khác.

Ban Hoằng pháp Trung ương làm sao kết hợp được với Bộ giáo dục và đào tạo, đưa một môn đạo đức học Phật giáo vào học đường, để hổ trợ ngành Giáo dục về lãnh lực đức dục cho học sinh, sinh viên. Đề nghị với chính phủ chỉ đạo chính quyền địa phương tạo điều kiện đưa những quan điểm tích cực Phật giáo vào những ngày hợp tổ nhân dân tự quản ở địa phương để khuyến khích người dân có một nếp sống ngũ giới, thập thiện theo tinh thần trí huệ, bình đẳng, vị tha của đạo Phật.

2. Đối với Giảng sư

Đề tài giảng phải giải quyết được những vấn đề con người và xã hội hiện đang vướng mắc.

Giảng sư khi giảng một pháp môn nào thì phải có công phu tu tập pháp môn đó, có một vài kinh nghiệm sở chứng pháp mình đang giảng, như thế mới có thể chuyển hóa người nghe và hướng dẫn họ đi vào con đường thực nghiệm tâm linh được.

Bước đầu hoằng pháp các vùng sâu, vùng cao, vùng xa, Giảng sư cần chú trọng tổ chức các lớp học Phật pháp dành cho các em thanh thiếu niên, và cấp phát băng đĩa, kinh sách … để họ xem và nghiên cứu thêm.

Hiện nay đời sống kinh tế của nhân dân vùng quê và vùng núi cao nguyên vô cùng khó khăn. Giảng sư đi hoằng pháp nơi nào nên kêu gọi các nhà hảo tâm hổ trợ giúp đỡ đồng bào địa phương đó để gây thiện cảm mà dễ cảm hóa họ.

Đẩy mạnh hơn nữa về lãnh vực giảng pháp trên mạng Internet.

Hôm nay nhân dịp hội thảo, chúng con mạo muội trình bày một vài ý nghĩ thô thiển của mình lên chư tôn lãnh đạo Ban Hoằng pháp trung ương. Ngưỡng trông chư tôn đức từ bi hoan hỷ, Trước lúc dứt lời chúng con kính nguyện hồng ân Tam bảo gia hộ qúi Ngài Pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, thọ mạng miên trường, mãi là đạo thọ vững chắc để chúng con trú ẩn và nương tựa trên bước đường phụng sự Tam bảo.

Kính chúc hội thảo thành công tốt đẹp. 

Trân trọng kính chào !

THỜI TIẾT