Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian

THAM LUẬN BAN HOẰNG PHÁP TỈNH AN GIANG

Thứ năm, 15 Tháng 4 2010 12:11 Hiếu Thảo
In PDF.

HOẰNG PHÁP VỚI AN CƯ KIẾT HẠ

 

Kính Bạch

 

Chư Tôn Đức Giáo Phẩm GHPGVN.

Kính Bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni.

Kính thưa Quý Đại Biểu.

Thay mặt Ban Hoằng Pháp tỉnh An Giang, chúng con xin gửi đến

 

Chư tôn đức giáo phẩm HĐCM – Ban Hoằng Pháp TW – BHP các Tỉnh thành hội Phật giáo, quý vị đại biểu lời chào cung kính và đại hoan hỷ nhất.

Kính Bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni.

Kính thưa Quý Đại Biểu.

          Hoằng pháp và An Cư Kiết Hạ là điều rất quan trọng, hết sức cần thiết đối với người đệ tử Phật. Hoằng pháp là làm cho mọi người thắm thuần chánh phap, hiểu đúng lời Phật dạy, bỏ ác làm lành, để tìm về con đường giác ngộ chân lý. An Cư Kiết Hạ, là thúc liễm thân tâm, tịnh tu trong 03 tháng, tam nghiệp thanh tịnh, đạo hạnh tăng trưởng, trí tuệ viên thông. Sau khi Đức Phật Thích Ca thành đạo, điều đầu tiên Ngài nghĩ đến đó là Hoằng pháp, nên Ngài mới đến vườn Lộc Uyển chuyển pháp luân độ 05 anh em Kiều Trân Như chứng quả a la hán, Phật, Pháp, Tăng từ đó được xuất hiên trên thế gian này. Và sau đó Ngài đã thành lập ra giáo hội Tăng già để chư Tăng lên đường hoằng dương chánh pháp lợi lạc chúng sanh. Trong suốt chiều dài lịch sử 2552 năm từ khi đức Phật thành đạo, đạo Phật được truyền bá khắp nơi trên thế giới, như một sức sống mãnh liệt hiền từ mà đức đạo sư đã truyền trao lại. Đức Phật đạt đến chỗ toàn năng toàn giác trí tuệ viên minh, Ngài đã nhận rõ về sự vật thế gian và xuất thế gian, nhưng khi bắt đầu chuyển bánh xe pháp đức Phật phải dùng ngôn từ để truyền đạt tư tưởng mà Ngài muốn nói. Điều này cho chúng ta có được một khái niệm muốn truyền bá chánh pháp của Phật, việc trước tiên là ngôn từ, trình độ học thức lý luận phải thông suốt, đó là nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong quá trình hoằng pháp của thời đại phát triển hiện nay.

         

          I – HOẰNG PHÁP LÀ GÌ :  Hoằng pháp là thuyết giảng truyền dạy làm cho giáo pháp của Phật được lan tỏa và mở rộng khắp nơi, hay nói cách khác là đem giáo lý của Phật đến với mọi người mọi tầng lớp trong xã hội, để áp dụng lời Phật dạy vào cuộc sống có lợi ích cho đời và bản thân được giác ngộ giải thoát. Hoằng pháp không có nghĩa là chỉ thuyết giằng trên pháp tòa hay dạy ở các trường Phật học, mà còn phải thể hiện qua mọi trường hợp sinh hoạt của bản thân trong phương diện khác nhau. Ngôn ngữ oai nghi tế hạnh, nếp sống đạo đức khiêm cung hiền từ, làm cho giáo lý của đức Phật được thanh thoát hòa nhập vào cuộc sống của con người, biến chuyển hành vi sai trái của con người thành chân thiện mỹ, như thế mới đạt được trọn vẹn lý tưởng hoằng pháp lợi sanh mà đức Phật đã chỉ dạy.

          Trên tinh thần đó, nhiệm vụ hoằng pháp vô cùng quan trọng, khi đức Phật còn tại thế cho đến các vị tổ sư đã thấy được vai trò cần thiết của hoằng pháp. Không phải là việc nhất thời mà phải có kết hoạch lâu dài và phải gắn liền với đời sống xuất gia hay tại gia của người con Phật. Phật giáo được phát triển huy hoàng, rực rỡ như ánh bình minh hay lui vào bóng tối của đem đen là do trách nhiệm hoằng pháp của hàng xứ giả Như Lai. Chính vì thấy rõ tầm quan trọng của việc “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài”, nên mỗi giảng sư phải tự phát huy và nổ lực tìm hiều mở rộng kiến thức, mới có thể chuyển hóa tâm thức nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của mọi người, xóa tan màn vô minh tâm tối về ngã chấp và kiến chấp sai làm của con người, làm cho mọi người có được cuộc sống cởi mở sáng suốt trong sạch, như ngọc lưu ly để trong ly nước, biến chuyển những chất độc hại thành liều thuốc bổ có lợi ích cho xã hội, làm cho con người trở nên trong sáng, cân bằng được giữa thiện và ác, thấy rõ nhận thức được tội và phước thì tự nhiên con người sẽ đưa đất nước xã hội và cùng nhau đến đỉnh cao của văn minh tốt đẹp, nhưng mang đầy tính chất thuần thiện đạo đức.

          Hoằng pháp đóng một vai trò như người nhạc trưởng, một vị tiên phong mở đường, phải có sự kiên trì dũng mãnh cộng với sự từ bi và trí tuê, như gương sáng tuyệt vời của Ngài Phú Lâu Na đã hứa với đức Phật. “Con đến đó truyền bá chánh pháp, dù có khó khăn trở ngại, mất mạng đi nữa cũng quyết không từ chối sứ mạng màng đức Phật đã giao phó”. Người Hoằng pháp vào thời đại văn minh của toàn câu hóa hiện nay, tất cả mọi nơi hầu như đa phần giáo, luôn tranh chấp lý luận về sự hiểu biết riêng tư của mình, nên người hoằng pháp phải đứng vững lập trường, đào sâu những tinh hoa giáo lý, nói đúng và trung thực theo lời Phật dạy trong kinh điển, thuần túy không thiên lệch như vị cam lồ sẽ rưới mát và đánh thức được tâm thức của chúng sanh. Hoằng pháp như thế gọi là lấy cái trung thực thắng cái giả dối, lấy trí tuệ thắng vô minh. Dùng sư tử âm để làm khiếp sợ và cảm hóa tất cả thú rừng, đó là cái dũng cái hùng của người hoằng pháp, xứng đánh là người tác Như lai xứ, hành Như Lai sự. Đem đạo vào đời phụng sự chúng sanh không tiếc thân mạng, đạo Phật được tồn tại và lưu truyền trên thế gian là nhờ vào sự nổ lực của ngành hoằng pháp. Hoằng pháp là một trách nhiệm chung của người xuất gia, nếu xét kỹ về vai trò hoằng pháp ai cũng có thể làm được. Vì ngồi trên pháp tòa là hoằng pháp về khẩu giáo, trùng tuyên hoặc lý luận những lời Phật dạy, làm cho mọi người vui vẻ hoan hỷ nhận thức đúng về phương pháp tu hành. Người lên pháp tòa cần phải có âm thanh, sắc tướng mới có thể chuyển tải giáo lý đức Phật đến với mọi người một cách dễ dàng. Đức Phật thì có “Viên âm” nên Ngài thuyết giảng tất cả mọi loài đều nghe được, ai cũng thích nghe và tin nhận vâng làm. Chúng ta là phàm Tăng không có “Viên âm” như đức Phật, nhưng về lĩnh vực hoằng pháp chúng ta nên chuyển tải giáo lý bằng cách “Mỹ âm” lời nói thâm trầm, truyền cảm, êm diệu để nghe, thể hiện được đức từ bi trong lời nói. Sắc tướng, dung mạo khả quan, ai thấy cũng kinh phục. Lời đó nói gì mọi người cũng nghe, đây gọi là hoằng pháp bằng khẩu giáo.

          Hoằng pháp bằng cách dụng tâm tu tập, tọa thiền, niệm Phật, giữ gìn giới luật, lưu giữ và gìn giữ kho báu chánh pháp của đức Phật. Hoặc là dịch kinh biên soạn cho mọi người tu tập, đọc tụng thông suốt ý nghĩa của lời Phật dạy, làm cho giáo lý của đức Phật ngài càng sáng tỏ. Xuyên qua quá trình lịch sử từ các vị tổ sư tiền bối ngày xưa, cho đến các vị cao tăng trong nước Việt Nam chúng ta ngày nay cũng vậy. Mặc dù các vì đó không đi thuyết giảng, nhưng nhờ vào sự tu tập, dịch kinh, biên soan mà lừng danh trong cả nước, tính đồ Phật tử, Tăng Ni đều kính phục, lễ bái như vị Bồ Tát ở thế gian, tất cả tăng ni đều biết đến, đó là đại Lão Hòa Thượng, Thượng Trí Hạ Tịnh, Ngài dùng thân giáo đẻ cảm hóa mọi người một cách hết sức hiệu quả, tất cả mọi chúng ta đều phải kính phục.

          Công tác hoằng pháp phải dựa trên hai tiêu đề, thân giáo và khẩu giáo, hai tiêu đề này mà phối hợp lại thì sẽ có được một sức mạnh vô biên, xoay chuyển bánh xe chánh pháp của đức Phật, lăng từ người này sang người khác một cách bền vững lâu dài, như đôi cánh của con chim đại bàng, có thể tác cạn biển động một cách dễ dang. Đây gọi là tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, để độ chúng sanh hồi đầu hướng thiện, trở về con đường chân thiện mỹ, an vui giải thoát.

          II – AN CƯ KIẾT HẠ : An Cư Kiết Hạ là một phương pháp tu rất hữu hiệu đối với người xuất gia, cũng là xu hướng tiến tới quả vị an lạc giải thoát. Khi đức Phật còn tại thế Ngài và các đệ tử vân du khắp nơi hoàng truyền chánh pháp, bước chân của Ngài đã đi khắp nơi trên miền đất Ấn Độ. Tuy nhiên, bước chân đó đến rằm tháng 04 vào mùa mưa, đức Phật và các đệ tử đều dừng lại trong 03 tháng, để tránh đạp chết côn trùng và lo tịnh tu, tiến đạo nghiêm thân tam thướng bất túc, trao dồi tam vô lậu hậu, kiểm soát tự tâm nghiêm trì giới luật, làm vị thiên nhơn chi đạo sư để cho chúng sanh gieo trông ruộng phước hiện tại và mai sau. Truyền thống An Cư Kiết Hạ, được đức Phật chế ra cho hàng đạo tử xuất gia được lưu giữ mãi cho đến ngày hôm nay.

          Tâm thức của chúng ta như vượn truyền cây, như ngựa rông ngoài cửa sổ, hàng ngày bị ngoại cảnh xen vào, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, rồi sanh ra phiền não vô minh, tham, sân, si  nổi lên làm cho dao động và đánh mất bản thân thanh tịnh của người xuất gia. An Cư Kiết Hạ ở yên một chổ tọa thiền quán chiếu nội tâm, dừng con khỉ ý thức, không cho sáu căn giao thoa với sáu trần nữa, từ đó màng vô minh sẽ bị trí tuệ thanh tịnh xóa tan, như giữa đêm tăm tối xuất hiện một ánh trăng tròn, như đi đêm được đèn sáng, như người nghèo gặp của báu. Đó là lợi ích rất lớn đối với hành giả An Cư Kiết Hạ, từ từ tiến lên thánh vị Niết bàn an vui tịch tịnh.

          An Cư Kiết Hạ nếu nhìn qua lăng kính cuẩ trí tuệ, chúng ta thấy điều đó giống như món ăn tuyệt hảo trong các buổi tiệc ngon, là liều thuốc bổ tinh thần của người xuất gia không thể thiếu được, là phương tiện đi đến con đường giải thoát. Đức Phật  là vị toàn năng toàn giác, trí tuệ siêu phàm, từ bi vô lượng. Vậy mà, cứ mỗi độ mưa rơi Ngài phải cấm túc an cư 03 tháng, để làm tiền đề gương mẫu cho Tăng Ni noi theo.

          Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh phát triển, vật chất ngoại cảnh đang rình rập và đeo đuổi chúng ta từng giây từng phút, nếu không khéo làm chủ nội tâm thì sóng nghiệp ba đào sẽ nổi lên trong tâm thanh tịnh, đưa con người tu đi sai đường lạc lối, như người ra biển không có la bàng. An Cư Kiết Hạ như người ra biển khơi có được la bàng, như vào rừng sâu biết được xu hướng để đi ra. Vì khi ngồi yên một chổ thì tâm thức sẽ bình thản, trí tuệ phát sanh, vô minh phiền não không còn, thanh lọc phiền não tịnh hóa thân tâm.     

          Vì thế, An Cư Kiết Hạ là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người xuất gia, là liều thuốc lương dược trị lành bệnh biếng lười, hôn trầm, trạo cử, là bức tường thành ngăn chặn con đường sanh tử, chấm dứt phiền não vô minh của con người xuát gia. Nếu người xuất gia mà không An Cư Kiết Hạ, thì coi như vị đó đã thiếu xót và đánh mất đi năng lực, đạo hạnh sẳn có của chính mình, và cũng chưa hoàn bị tinh thần xuất thế. Xét về khía cạnh khách quan bên ngoài chúng ta thấy trong 03 tháng An Cư sự tu tập hành trì có thể vượt trội hơn một năm ở tại chùa công phu bái sám, vì 03 tháng An Cư là trú dạ lục thời, hành trì miên mật giữ vững nội tâm không cho giao động, như người giàu giữ được của báu, như qua biển lớn có được con thuyền bát nhã vững chắc.

          Đối với nghành Hoằng Pháp là thiết thực có lợi ích cho mọi người, nhưng xét cho kỷ thì bản thân người hoằng pháp thật là quá bận rộn, nghiên cứu tìm hiểu những tinh hoa giáo lý truyền đạt vận hành bánh xe chánh pháp đi vào tâm thức mọi người, đem đạo vào đời để mọi người bỏ tà về chánh, đi theo con đường mà đức Phật đã đi qua. Nhưng nếu chỉ lo hoằng pháp mà không lo tu, thì sự an lac giải thoát không được cân bằng, có phước mà không có huệ.

          Trên tinh thần giác ngộ giải thoát, người giảng sư đi giảng nhiều thì phải tu chuyên cần miên mật, tọa thiền hoặc niệm Phật. Có tu thì lời nói mới có sức sống, diễn đạt giáo lý đưa người nghe đi thẳng vào con đường minh chứng. Đây gọi là thân giáo và khẩu giáo phải song hành với nhau, như bườm thuận gió, lúc đó chúng ta nói và diễn đạt mọi người đều kính phuc.

          Nói chung lại, Hoằng pháp và An Cư Kiết Hạ phải gắn liền với nhau, như người xuất gia đệ tử Phật không thể thiếu một trong hai điều kiện trên, vì hai điều này là tự lợi và lợi tha đó là tinh thần của Bồ Tát đạo, phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật. Có tu mới cúng dường Phật tâm của chính mình và nuôi lớn lòng từ bi, từ đó phát sanh trí tuệ vô sư. Nhiệm vụ hoằng pháp là nhiệm vụ cao cả của người xuất gia, bằng những hành trạng thân hoằng, khẩu hoằng và ý hoằng. Những giảng sư của Ban Hoằng Pháp chúng ta cùng nhau phát huy mọi điều kiện để phù hợp với khế cơ, khế lý hoàn thiện với chức năng hoằng pháp của chính mình đến với tất cả mọi người làm tròn trách nhiệm của người xuất gia là: "Thượng cầu Phật đại, hạ hóa chúng sanh" theo tinh thần vô ngã vị tha.

          Thành tâm kính chúc chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội, Ban Hoằng Pháp TW, Ban Hoằng Pháp các Tỉnh thành, Pháp thể khinh an - Tuệ đăng thường chiếu - Phận sự viên thành.

          Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

THỜI TIẾT