Vietnamese Belarusian Bulgarian Chinese (Simplified) Chinese (Traditional) Croatian Czech Dutch English Filipino Finnish French Georgian German Greek Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Malay Norwegian Persian Polish Portuguese Russian Spanish Swedish Thai Turkish Ukrainian
An Cư

ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG TUỆ TẠNG ĐỨC THƯỢNG THỦ ĐẦU TIÊN CỦA GIÁO HỘI TĂNG GIÀ VIỆT NAM

Thứ bảy, 23 Tháng 5 2009 08:46 Hiếu Thảo
In PDF.

ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG TUỆ TẠNG

ĐỨC THƯỢNG THỦ ĐẦU TIÊN

CỦA GIÁO HỘI TĂNG GIÀ VIỆT NAM
Hoà thượng Thích Đức Nghiệp

                Phó Thư ký Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh
                                                  Giáo hội Phật giáo Việt
Nam.

                     Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Kính bạch…

Kính thưa…

Thưa toàn thể quý vị,

Hôm nay, ngày 18/5/2009, tại chùa Vọng Cung, 28 Trần Phú, thành phố tỉnh Nam Định, tôi hân hạnh được mời viết tham luận và tham dự buổi Hội thảo Khoa học này do Ban Tổ chức Hội thảo gồm quý vị Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Nam Định, kết hợp với Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, cùng chư Tôn Đức Tăng Ni và các hàng Phật tử thuộc môn đồ pháp quyến, đã được quý vị lãnh đạo Đảng, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban Tôn giáo Chính phủ và chính quyền địa phương cho phép tổ chức buổi Hội Thảo này, nhằm kỷ niệm 50 năm (1959-2009) ngày Viên tịch của Đại lão Hòa thượng Tuệ Tạng, Đức Thượng thủ đầu tiên của Giáo hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam.

Kính thưa quý vị,

Trong buổi Hội thảo này, xin phép quý vị được tự giới thiệu: chúng tôi vốn là học trò và là giới tử Bồ tát của Ngài Tuệ Tạng. Ở đây, chúng tôi muốn thành kính dâng lên Giác linh Ngài mấy lời cảm niệm:

Thật sự, Ngài là bậc đại sĩ xuất trần như một bông sen lớn nở giữa bùn lầy, mang lại hương thơm và vẻ đẹp cho đời; trọn đời trong sáng Ngài đã hiến dâng cho Phật Pháp và dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của thế kỷ 20.

Ngài đã xuất thân trong một gia đình thuần thành mộ Phật (1889-1959), tại xã Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ngài mang thế danh Trần Thanh Thuyên, pháp danh Tuệ Tạng và đạo hiệu Tâm Thi.

Năm 14 tuổi, sớm cảm nhận đời người thường trôi lăn trong biển khổ, nên Ngài đã phát tâm đầu Phật xuất gia tại chùa Phúc Lâm, tức chùa Lương Xã Thượng, xã Quần Phương Thượng, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, dưới sự dìu dắt của Hòa thượng nghiệp sư trụ trì.

Năm 1905, Ngài được thụ giới Sa Di, đồng thời, được Sư Trưởng cử ra trông coi chùa Quy Hồn, ở gần chợ Cồn, xã Văn Lý, do vậy, chùa này cũng thường được gọi là chùa Cồn.

Năm 20 tuổi, Ngài đăng đàn thụ giới Tỷ Khiêu. Tiếp đó, Ngài đã chuẩn bị hành trang lên đường tìm thầy học đạo, tại Tổ đình Tế Xuyên, tỉnh Hà Nam và tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang.

Năm 1920, Ngài cùng chư Tôn Đức Tăng Ni tỉnh Nam Định thành lập Hội Phật Giáo Tiến Đức và Hội Phật Giáo Liên Xã. Hội thứ nhất nhằm khuyến khích các Tăng Ni trẻ tuổi, hằng năm, phải đi kết Hạ an cư và tu dưỡng thân tâm trên Giới, Định, Tuệ, Tam Vô Lậu Học. Hội thứ hai nhằm tổ chức luân phiên tại các chùa hội viên Đại Lễ Vu Lan với mục đích cầu nguyện quốc thái dân an và báo ân phụ mẫu sư trưởng.

Năm 1934, đáp ứng phong trào chấn hưng Phật giáo trên toàn quốc, khắp Nam - Trung - Bắc, Ngài cùng Hòa thượng Trí Hải, Hòa thượng Tố Liên và cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha tích cực thành lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ, thỉnh mời ông Nguyễn Năng Quốc làm Hội trưởng và Sư Tổ Vĩnh Nghiêm làm Thiền gia Pháp chủ, đặt trụ sở trung ương Hội tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Sau đó, Hội tiếp tục mở nhà in và xuất bản báo Đuốc Tuệ. Đồng thời, về mặt Phật học, Hội khai giảng các trường Tăng học tại chùa Quán Sứ và tại chùa Cao Phong ở gần phi trường Nội Bài hiện nay; các trường Ni học tại chùa Bồ Đề và tại chùa Vân Hồ (Hà Nội). Về mặt thế học, mở Trường Tiểu học Khuông Việt tại chùa Quán Sứ và Trường Trung học Vạn Hạnh tại chùa Hàm Long (Hà Nội), mà Ngài làm Đốc giáo, chuyên dạy về Luật Phật và phổ thông Tam Tạng - Kinh, Luật, Luận, dành cho các Tăng Ni.

Ngày 19/8/1945, Cách mạng Tháng Tám thành công và ngày 2/9 tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ chủ tịch lãnh đạo. Nhân dịp này, Ngài được Tăng Ni và Phật tử bầu làm Hội trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam Bắc Việt và Viện Chủ trụ trì chùa Quán Sứ. Đặc biệt sau ngày 19/8 và ngày 2/9/1945, Ngài và Hòa thượng Thích Thanh Hỷ đại diện Hội Phật Giáo Cứu Quốc Chùa Bà Đá Hà Nội được vào Phủ Chủ tịch kính mừng Hồ Chủ Tịch. Và sau đó, đáp lại, Hồ Chủ Tịch đã đến thăm chùa Quán Sứ và chùa Bà Đá và dùng cơm thân mật tại đó.

Tháng 12/1946, chiến tranh Pháp - Việt bắt đầu xảy ra tại Hà Nội, Ngài cùng các Tăng Ni, khoảng 100 vị, trong đó có tôi và thày Thiện Hòa, người Sàigòn, đi di tản theo Ngài, về hậu phương chùa Cồn, chùa Xã Trung thuộc huyện Hải Hậu, Nam Định, rồi chùa Sở và chùa Cát Nội thuộc huyện Trực Ninh, Nam Định. Ở bất cứ ở nơi nào, Ngài cũng khai trường thuyết pháp, cả bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, xuyên suốt bốn năm liên tục, từ năm 1947 đến năm 1950, mặc dầu gặp nhiều khó khăn, trở ngại về nhiều mặt trong thời kỳ chiến tranh.

Năm 1950, Hòa thượng Tố Liên, Trị sự trưởng Hội Tăng Ni Bắc Việt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, cử sư ông Quỳ mang lá thơ của Hội về chùa Cồn, huyện Hải Hậu, Nam Định, kính mời Ngài và chư Tăng Ni trở lại chùa Quán Sứ, Hà Nội, để lập lại các trường Phật học và điều hành các Phật sự như trước.

Năm 1951, ông bà Phật tử Vĩnh Bảo, Hội trưởng Hội Phật Giáo Nam Định, lên chùa Quán Sứ, Hà Nội, cung thỉnh Ngài về trụ trì chùa Vọng Cung, ở trung tâm thành phố tỉnh Nam Định. Hơn nữa, Ngài lại được mời làm Chứng minh Đạo sư cho Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, gồm sáu tập đoàn Phật giáo của toàn quốc Việt Nam, nghĩa là, ba tập đoàn Tăng Ni thuộc Bắc - Trung - Nam và ba tập đoàn cư sĩ của Bắc - Trung - Nam, trụ sở trung ương của Tổng hội đặt tại chùa Từ Đàm, cố đô Huế, mà Đức Hội chủ là Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.

Năm 1952, nhằm ngày 7 tháng 9, Hội nghị Giáo hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam được tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội đã suy tôn Ngài lên ngôi Thượng thủ Giáo hội Tăng già Toàn quốc Việt Nam, đồng thời Ngài còn phổ biến Tâm thư gồm 50 trang, gửi tới toàn thể chư Tôn Đức Tăng Ni trên toàn quốc, kêu gọi sự đồng tâm nhất trí hành động và hòa hợp đoàn kết vững mạnh để xây dựng và phát triển ngôi nhà chung của Giáo hội Tăng già Việt Nam mỗi ngày thêm tiến bộ và hưng thịnh, đồng hành cùng dân tộc Việt Nam với sứ mạng Hộ Quốc An Dân, góp phần mang lại hòa bình, hạnh phúc và công bằng xã hội cho nhân dân.

Ngoài ra, về mặt văn học, Ngài để lại cho Tăng Ni và Phật tử những tác phẩm như: Tại gia tu hành,Tâm thư; và những dịch phẩm như: Kinh Phạm Võng giải, Luật Sa Di.

Ôi, những công đức to lớn của Ngài đối với Phật giáo và dân tộc Việt Nam đã in đậm trong giáo sử và lịch sử! Theo quy luật vô thường, có sinh phải có tử, Ngài đã viên tịch vào ngày 3 tháng 4 năm Kỷ Hợi (1959) tại chùa Vọng Cung, thành phố tỉnh Nam Định. Ngài hưởng thọ 70 tuổi đời và 50 tuổi đạo. Sở dĩ có buổi Hội thảo tại đây hôm nay, là vì tất cả Tăng Ni và Phật tử chúng ta noi theo gương sáng của Ngài và báo ơn Ngài trong muôn một.

Nam Mô Ma Ha Sa Môn, Tỷ Khiêu Bồ Tát Giới, Pháp Húy Thích Tuệ Tạng Luật Sư, Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Việt Nam Giác Linh, Liên Tọa Hạ, Tác Đại Chứng Minh!
                                     Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý vị!

 

                    

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 23 Tháng 5 2009 09:07